Bản án 122/2019/HS-ST ngày 04/04/2019 về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H – TỈNH QUẢNG NINH

BẢN ÁN 122/2019/HS-ST NGÀY 04/04/2019 VỀ TỘI MUA BÁN VÀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 04 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 03 năm 2019 đối với các bị cáo: 

1. Họ và tên: Đoàn Huy T, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 8/9/1984 tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Tổ 71, khu 5, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Đoàn Quốc N, sinh năm 1958; và bà: Hoàng Thị C, sinh năm 1957; Vợ: Cao Thị T, sinh năm 1984 (đã ly hôn); Có 01 con, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị bắt khẩn cấp ngày 10/01/2019, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Hoàng Trung S, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 06/7/1984, tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Tổ 3, khu 6, phường Y, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Hoàng Đình C (đã chết); và bà: Trần Thị D, sinh năm 1950; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Ngày 07/11/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 18 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 29/8/2017 chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: Chưa; Bị bắt quả tang ngày 10/01/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Lê Văn H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 12/01/1981, tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Tổ 1, khu 1, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: Lớp 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Lê Văn T, sinh năm 1952; và bà: Bùi Thị T (đã chết); Vợ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1986; có 01 con sinh năm 2013; Tiền án: Ngày 02/11/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 30 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 27/4/2018 chấp hành xong hình phạt tù. Tiền sự: Chưa; Nhân thân: Ngày 26/11/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố H xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”Bị bắt quả tang ngày 10/01/2019, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng:

- Nguyễn Anh T1; sinh năm 1986.

Địa chỉ: tổ 7 khu 3 phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

- Nguyễn Văn Đ; sinh năm 1984

Địa chỉ: tổ 67A, khu 5 phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Đều vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào khoảng 11giờ 20 ngày 10/01/2019, Hoàng Trung S và Lê Văn H rủ nhau mỗi người góp 100.000 đồng để mua Heroine về sử dụng. H đưa cho S 100.000 đồng để lấy ma túy. Đến khoảng 11 giờ 35 phút cùng ngày, S một mình đến khu vực đường bao biển cột 5, thuộc phường Hồng Hải, thành phố H. Tại đây, Đoàn Huy T bán cho S 02 gói Heroine, với giá 200.000 đồng. S cầm 02 gói Heroine quay lại khu vực đài tưởng niện thuộc tổ 56, khu 4, phường B, thành phố H đưa cho H 01 gói để sử dụng, thì bị Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang.Thu giữ của S và H mỗi người 01 gói giấy, bên trong đều có chứa chất bột màu trắng và thu giữ của S 01 điện thoại di động nhãn hiệu MASTELL có số thuê bao 0917.731.085.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành bắt và khám xét nơi ở đối với Đoàn Huy T, qua khám xét thu giữ trong túi quần của T 01 gói giấy, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen có số thuê bao 0948.080.984; số tiền 200.000 đồng; thu trong túi áo khoác của T để trên ghế trong phòng khách 05 gói giấy, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng .Tại Bản kết luận giám định số 198/GĐMT ngày 15/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Hoàng Trung S là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,178 gam; chất bột màu trắng thu giữ của Lê Văn H là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,177 gam; chất bột màu trắng thu trong túi quần của Đoàn Huy T gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,175 gam và chất bột màu trắng thu tại túi áo khoác của T gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,665 gam. Tổng khối lượng thu của T là 0,84 gam Heroine. (Bút lục số: 103) .

Quá trình điều tra, Đoàn Huy T còn khai nhận ngoài bán ma túy cho S và H; T còn nhiều lần bán ma túy cho nhiều người khác nhưng không nhớ tên tuổi, địa chỉ người mua. Các bị cáo T, S và H còn khai nhận trước đó cụ thể là vào khoảng 11 giờ ngày 09/01/2019, tại khu vực đường bao biển cột 5 thuộc phường Hồng Hải, thành phố H, T đã bán cho S 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng; vào khoảng 15 giờ ngày 08/01/2019 và 21 giờ ngày 09/01/2018, tại khu vực tổ 71, khu 5, phường B, thành phố H, T bán cho Lê Văn H mỗi lần 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng/gói. Về nguồn gốc số Heroine T bán cho S và cất giấu bị thu giữ nêu trên là của T mua của một người đàn ông không quen biết vào khoảng 14 giờ ngày 09/01/2019, tại khu vực đường tàu, thuộc thành phố Hải Phòng với giá 500.000 đồng được 01 gói Heroine. Sau khi mua được ma túy, T đem về sử dụng một ít, số còn lại chia ra thành 08 gói để bán với giá 100.000 đồng/gói. Số ma túy này T đã bán cho S 02 gói với giá 200.000 đồng vào trưa ngày 10/01/2019, còn lại 06 gói cất giấu mục đích để bán. Số tiền 200.000 đồng bị Cơ quan điều tra thu giữ là tiền bán ma túy cho S.

Tại bản cáo trạng số: 65/CT-VKSHL ngày 21/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố Đoàn Huy T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Lê Văn H và Hoàng Trung S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị:

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Đoàn Huy T từ 8 đến 8 năm 6 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 10/01/2019;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 58 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Lê Văn H từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 10/01/2019; Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 58 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Hoàng Trung S từ 18 đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 10/01/2019.

Về hình phạt bổ sung: do các bị cáo không có công việc ổn định, thu nhập ổn định nên không phạt tiền các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động MATELL màu đen đã cũ kèm theo 01 sim điện thoại số thuê bao 0917.731.085; 01 điện thoại di động OPPO màu đen đã cũ kèm theo 01 sim điện thoại số thuê bao 0948080984 liên quan việc phạm tội, số tiền 200.000 đồng do phạm tội mà có; tịch thu tiêu hủy 0,69 gam heoine hoàn lại sau giám định. Truy thu của T số tiền 300.000 đồng mà T có được do bán ma túy cho H, S vào ngày 08/01/2019 và ngày 09/01/2019.

Tại phiên toà các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về chứng cứ kết tội:

[1.1] Các bị cáo có lời khai thừa nhận đã phạm tội. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng quy kết. Các bị cáo thừa nhận ngày10/01/2019 S và H có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng thì bị bắt giữ. Bị cáo T có hành vi bán cho S 02 gói Heroine, với giá 200.000 đồng bị Công an kiểm tra phát hiện và bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng. Đồng thời cơ quan điều tra tiến hành bắt và khám xét nơi ở đối với Đoàn Huy T, thu giữ trong túi quần của T 01 gói giấy, bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu đen có số thuê bao 0948.080.984; số tiền 200.000 đồng; thu trong túi áo khoác của T để trên ghế trong phòng khách 05 gói giấy, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng

Các bị cáo còn khai nhận: T còn nhiều lần bán ma túy cho S, H và nhiều người khác nhưng không nhớ tên tuổi, địa chỉ người mua. T, S, H chỉ nhớ cụ thể là vào khoảng 11 giờ ngày 09/01/2019, tại khu vực đường bao biển cột 5 thuộc phường Hồng Hải, thành phố H, T đã bán cho S 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng; vào khoảng 15 giờ ngày 08/01/2019 và 21 giờ ngày 09/01/2019, tại khu vực tổ 71, khu 5, phường B, thành phố H, T bán cho Lê Văn H mỗi lần 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng/gói.

[1.2] Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng Nguyễn Anh T1, Nguyễn Văn Đ tai cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang được lập ngày 10/01/2019, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, biên bản nhận dạng, biên bản khám xét, bản kết luận giám định số 198/GĐMT ngày 15/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh

[2]Với các chứng cứ nêu trên, kết hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ thấy có đủ cơ sở kết luận: ngày 10/01/2019 Hoàng Trung S có hành vi tàng trữ 0,178 gam heroine và Lê Văn H có hành vi tàng trữ 0,177 gam heroine nên đã phạm tội « tàng trữ trái phép chất ma túy » theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đoàn Huy T có hành vi cất giấu trái phép 0,84 gam heroine mục đích để bán và từ ngày 08/01/2019 đến 09/01/2019 đã nhiều lần bán ma túy cho S, H và nhiều người nên phạm tội”Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

[3]Tại bản cáo trạng số: 65/CT-VKSHL ngày 21/02/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố Đoàn Huy T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Lê Văn H và Hoàng Trung S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. 

[4]Về nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Các bị cáo là người trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy, cũng như sự ngăn cấm của pháp luật nhưng chỉ vì lợi ích cá nhân mong muốn kiếm lời nhanh chóng và thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo T đã coi thường pháp luật,bất chấp các quy định nghiêm khắc của pháp luật để thực hiện hành vi bán ma túy cho các đối tượng nghiện nhiều lần. bị cáo S và H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của các bị cáo không những tiếp tay cho các đối tượng tội phạm về ma túy khác mà còn gây mất trật tự an ninh tại địa phương, gây bất bình trong nhân dân. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm khắc các bị cáo để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người lương thiện và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5]Xét về vai trò trong vụ án thấy: các bị cáo có vai trò độc lập với nhau trong việc phạm tội nên phải chịu hình phạt tương xứng hành vi của mình.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo S và H có 01 tiền án chưa được xóa án tích với hành vi phạm tội lần này là đã phạm tội với tình tiết tái phạm.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo S có mẹ là bà Trần thị D có công với nước được chủ tịch nước tặng huy chương kháng chiến hạng nhất, bị cáo T có mẹ là bà Hoàng Thị C được bộ trưởng tăng huy chương vì sức khỏe nhân dân nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, khoản 1,2 điều 51 Bộ luật hình sự.

[8] Về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng phạt tiền đối với các bị cáo

[9] Về vật chứng vụ án: tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động MATELL màu đen đã cũ kèm theo 01 sim điện thoại số thuê bao 0917.731.085; 01 điện thoại di động OPPO màu đen đã cũ kèm theo 01 sim điện thoại số thuê bao 0948080984 liên quan việc phạm tội, số tiền 200.000 đồng liên quan việc phạm tội. Tịch thu tiêu hủy 0,69 gam heoine hoàn lại sau giám định. Ngoài ra cần truy thu của T số tiền 300.000 đồng do bán ma túy cho H, S vào ngày 08/01/2019 và ngày 09/01/2019.

[10] Về Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Công an thành phố H, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố H trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định pháp luật.

[11] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: bị cáo Đoàn Huy T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Lê Văn H và Hoàng Trung S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Đoàn Huy T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 10/01/2019;

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 điều 52 ;điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Lê Văn H 18 ( mười tám) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 10/01/2019;

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 điều 52; điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự

Xử phạt: Hoàng Trung S 18 ( mười tám) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 10/01/2019;

Căn cứ điểm a, b khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 điều 106 bộ luật tố tụng hình sự

-Tịch thu sung quĩ nhà nước: 01 điện thoại di động MATELL màu đen đã cũ kèm theo 01 sim điện thoại số thuê bao 0917.731.085; 01 điện thoại di động OPPO màu đen đã cũ kèm theo 01 sim điện thoại số thuê bao 0948080984 liên quan việc phạm tội, số tiền 200.000 đồng liên quan việc phạm tội.

-Tịch thu tiêu hủy 0,69 gam heoine hoàn lại sau giám định.

Tất cả vật chứng nêu trên trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 130/BB-THA ngày 02/4/2019 của chi cục thi hành án thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.

Buộc Đoàn Huy T nộp lại số tiền 300.000 đồng sung quĩ nhà nước.

Căn cứ: Điều 135, khoản 2 điều 136; điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Luật án phí, lệ phí Toà án, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, có mặt các bị cáo,báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


50
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 122/2019/HS-ST ngày 04/04/2019 về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:122/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long - Quảng Ninh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:04/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về