Bản án 12/2020/HS-ST ngày 28/04/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮKMIL, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 12/2020/HS-ST NGÀY 28/04/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 28 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐM, tỉnh ĐN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2020/TLST-HS, ngày 12/3/2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2020/QĐXXST-HS ngày 18/3/2020 đối với bị cáo:

Họ Và Tên: Nguyễn Quốc Ngh; sinh năm 1993; Tên gọi khác: không; nơi sinh: tnh Đăk Lăk; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Số 21 đường Y, phường TC, thành phố B, tỉnh ĐL; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Công nhân; con ông Nguyễn Ngọc Nh (đã chết); con bà Nguyễn Thị Kim H – Sinh năm 1966; trú tại 340a đường TP, phường TC, TP. B, tỉnh ĐL; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/12/2019; hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện ĐM, tỉnh ĐN; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

1. Anh Tôn Thất Nhật Tr, sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn Đ, xã TA, huyện ĐM, tỉnh ĐN (Vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1976

Địa chỉ: Thôn Đ, xã TA, huyện ĐM, tỉnh ĐN (Có mặt).

3. Anh Phạm Hữu S, sinh năm 1996

Địa chỉ: Tổ dân phố 6B, phường T, thành phố B, tỉnh ĐL (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐM, tỉnh ĐN truy tố về hành vi phạm tội như sau: Ngày 18/12/2019, Nguyễn Quốc Ngh (sinh năm 1993) trú tại số 21, đường Y, thành phố B, tỉnh ĐL đến xin làm tại Công ty TNHH MTV Kiều Th (là Công ty đang nhận chế biến sản phẩm cho Công ty cà phê TA tại sân phơi thuộc thôn TS, xã TA, huyện ĐM, tỉnh ĐN) thì được anh Tôn Thất Nhật Tr (sinh năm 1989) trú tại thôn Đ, xã TA, huyện ĐM, tỉnh ĐN là người quản lý cho Công ty Kiều Th nhận vào làm công nhân. Qúa trình làm công việc tại sân phơi của Công ty cà phê TA gồm có anh Tôn Thất Nhật Tr, Phạm Hữu S (sinh năm 1996) trú tại TDP 6B, phường TL, thành phố B, tỉnh ĐL, Nguyễn Văn M (sinh năm 1976)trú tại thôn Đ, xã TA, huyện ĐM, tỉnh ĐN và Nguyễn Quốc Ngh.

Ngày 25/12/2019, anh Phạm Hữu S gửi 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đỏ - đen - xám, biển số 47B2 - 056… và anh Tôn Thất Nhật Tr gửi 01 máy tính xách tay hiệuAcer màu xám; 01 bàn phím máy tính màu đen - bạc hiệu HP; 01 ba lô máy tính hiệu Acer tại phòng bảo vệ sân phơi Công ty cà phê TA cho anh Nguyễn Văn M trông coi dùm. Khoảng 23h 00p cùng ngày khi thấy anh Nguyễn Văn M đã ngủ say, Nguyễn Quốc Ngh nảy sinh ý định trộm cắp các tài sản trên để bán lấy tiền tiêu sài. Nguyễn Quốc Ngh lấy 01 máy tính xách tay hiệu Acer, 01 bàn phím máy tính màu đen - bạc hiệu HP, 01 chiếc điện thoại đi động nhãn hiệu Samsung Galaxy J4 và 01 chiếc điện thoại đi động hiệu Nokia của anh Nguyễn Văn M bỏ vào ba lô máy tính hiệu Acer, sau đó Nguyễn Quốc Ngh lấy chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đỏ - đen - xám, biển số 47B2 - 056… đi ra ngoài phòng bảo vệ mở khóa điều khiển xe đi về thành phố B, tỉnh ĐL. Ngày 26/12/2019, Nguyễn Quốc Ngh bán chiếc điện thoại Samsung Galaxy J4 cho một người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch) được 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng). Đến khoảng 18h00pcùng ngày, trong qúa trình đang đi tiêu thụ những tài sản trộm cắp còn lại thì bị cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ĐM, tỉnh ĐN phát hiện và xử lý theo quy định pháp luật.

Ti bản kết luận định giá tài sản số 68/HĐĐGTS ngày 31/12/2019, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện ĐM kết luận: 01 xe mô tô Honda, loại Air Blade, màu đỏ - đen - xám biển số 47B2 – 05…, đăng ký lần đầu ngày 7/9/2016, dung tích 125cc có giá trị 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng); 01 máy tính xách tay hiệu Acer màu xám có giá trị 2.367.000 đồng (Hai triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn đồng)01 bàn phím máy tính màu đen - bạc, hiệu HP có giá trị 73.000 đồng (Bảy mươi ba nghìn đồng); 01 balo hiệu Acer màu xám có giá trị 107.000 đồng (Một trăm lẽ bảy nghìn đồng)01 điện thoại Nokia 1280 có giá trị 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng); 01 điện thoại Sam sung Galaxy J4 có giá trị 1.167.000 đồng (Một triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng). Tổng giá trị thiệt hại là 27.914.000 đồng (Hai mươi bảy triệu, chín trăm mười bốn nghìn đồng).

Ti bản cáo trạng số: 08/CTr-VKS, ngày 10/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐM, tỉnh ĐN đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc Ngh về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Ti phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi pham tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Ti phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐM, tỉnh ĐN giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Ngh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Quốc Ngh mức án từ 12 đến 15 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; Đề nghị :

Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ĐM đã thu giữ và trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đỏ - đen - xám, biển số 47B2 – 05…, số máy JF63E1037529, số khung 6303F2037467; 01 máy tính xách tay hiệu Acer màu xám, 01 bàn phím máy tính hiệu HP, 01 ba lô máy tính hiệu Acer; 01 điện thoại Nokia 1280. (Theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 13/01/2020).

Về trách nhiệm dân sự: Ngưi bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo và lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ĐM, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐM, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc Ngh đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như diễn biến sự việc mà Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐM đã truy tố, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu thu thập có lưu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai.

Hội đồng xét xử xét thấy: Vào khoảng 23h00p ngày 25/12/2019, tại sân phơi của Công ty Cà phê TA thuộc thôn TS, xã TA, huyện ĐM, tỉnh ĐN, Nguyễn Quốc Ngh lợi dụng sơ hở trong việc trông coi quản lý tài sản của anh Nguyễn Văn M, đã lén lút trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đỏ - đen - xám, biển số 47B2 – 05… của anh Phạm Hữu S có giá trị 24.000.000 đồng (Hai mươi bốn triệu đồng); 01 máy tính xách tay hiệu Acer màu xám có giá trị 2.367.000 đồng (Hai triệu ba trăm sáu mươi bảy nghìn đồng), 01 bàn phím máy tính hiệu HP có giá trị 73.000 đồng (Bảy mươi ba nghìn đồng), 01 balo máy tính hiệu Acer có giá trị 107.000 đồng (Một trăm lẽ bảy nghìn đồng) của anh Tôn Thất Nhật Tr; 01 điện thoại Samsung Galaxy J4 có giá trị 1.167.000 đồng (Một triệu một trăm sáu mươi bảy nghìn đồng), 01 điện thoại Nokia 1280 có giá trị 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) của anh Nguyễn Văn M. Tổng giá trị tài sản do Nguyễn Quốc Ngh trộm cắp là 27.914.000 đồng (Hai mươi bảy triệu, chín trăm mười bốn nghìn đồng).

Hành vi này của bị cáo Nguyễn Quốc Ngh đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Do đó, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Quốc Ngh đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS năm 2015.

Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc sở hữu của người khác. Bị cáo biết việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, làm mất trật tự an ninh tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân nhưng với ý thức coi thường pháp luật, để có tiền tiêu xài cá nhân bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của người bị hại để lén lút trộm cắp tài sản với tổng số tiền 27.914.000 đồng. Do đó, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[4] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình gây ra, người bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Hội đồng xét xử xét thấy: Qua xác minh các bị cáo là người không có tài sản, thu nhập, không có điều kiện để thi hành hình phạt bổ sung nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên không xem xét giải quyết.

[8] Về xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện ĐM đã thu giữ sau đó ra quyết định xử lý vật chứng trả lại: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đỏ - đen - xám, biển số 47B2 – 05…, số máy JF63E1037529, số khung 6303F2037467; 01 máy tính xách tay hiệu Acer màu xám, 01 bàn phím máy tính hiệu HP, 01 ba lô máy tính hiệu Acer; 01 điện thoại Nokia 1280 cho các chủ sỡ hữu hợp pháp là phù hợp nên cần chấp nhận.

[9] Trong vụ án còn có một số vấn đề sau:

Đi với 01 chiếc điện thoại Samsung Galaxy J4, bị cáo đã bán cho một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch, cơ quan CSĐT công an huyện ĐM đa áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không thu hồi được nên không xem xét, giải quyết.

[10] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quốc Ngh phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Ngh phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc Ngh 01 (một) năm, 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 26/12/2019.

2. Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Chp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ĐM đã thu giữ và trả lại:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu đỏ - đen - xám, biển số 47B2 – 05…, số máy JF63E1037529, số khung 6303F2037467 cho anh Phạm Hữu S.

- 01 điện thoại Nokia 1280 cho anh Nguyễn Văn M.

- 01 máy tính xách tay hiệu Acer màu xám, 01 bàn phím máy tính hiệu HP, 01 ba lô máy tính hiệu Acer cho anh Tôn Thất Nhật Tr.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc Ngh phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

“Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều Luật thi hành án dân sự  thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2020/HS-ST ngày 28/04/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:12/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Mil - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 28/04/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về