Bản án 12/2020/HSST ngày 14/02/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 12/2020/HSST NGÀY 14/02/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 14 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2020/TL-STHS ngày 17 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Lường Văn Q, sinh năm 1986 tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản B, xã L, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; Đảng phái, đoàn thể: Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam. Đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định đình chỉ sinh hoạt Đảng số: 121/QĐ – UBKTHU ngày 20/11/2019 của UBKT huyện ủy Mộc Châu; dân tộc: Thái; giơi tinh: Nam; tôn giáo: Không; quôc tich: Viêt Nam; con ông Lường Văn C và bà Mè Thị N; bị cáo có vợ là Hoàng Thị Q; có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam, giữ từ ngày 07/11/2019 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 50 phút ngày 07/11/2019, tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu Lóng Sập làm nhiệm vụ tại khu vực Bản B, xã L, huyện M phát hiện Lường Văn Q đang đi bộ một mình trên đường dân sinh có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu Q dừng lại để kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên trái phía trước đang mặc của Q có 01 gói nilon màu trắng bên trong đựng 50 viên nén màu hồng trên bề mặt mỗi viên đều có ký hiệu WY nghi là Methamphetamine của Q cất giấu mục đích để sử dụng cho bản thân nghiện chất ma túy. Căn cứ hành vi vi phạm của Lường Văn Q, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng, dẫn giải Lường Văn Q về Đồn biên phòng cửa khẩu Lóng Sập để điều tra làm rõ.

Ngày 08/11/2019 Đồn biên phòng cửa khẩu Lóng Sập đã Quyết định khởi tố vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và có công văn yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu ra quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra theo thẩm quyền. Cùng ngày Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu đã quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra theo thẩm quyền.

Cùng ngày 08/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu và Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong xác định số lượng, khối lượng các viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine thu giữ của Lường Văn Q: 50 viên được tổng khối lượng 4,56 gam, đồng thời lấy 05 viên có khối lượng 0,45 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu kí hiệu Q.

Kết luận giám định số 1652 ngày 14/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La: “Mẫu gửi giám định ký hiệu Q là ma túy; loại Methamphetmine; khối lượng mẫu gửi giám định là 0,45 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 4,56 gam; loại Methamphetmine”.

Quá trình điều tra Lường Văn Q khai nhận: Lường Văn Q là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đang sinh hoạt tại Chi bộ bản Bó Sập thuộc Đảng ủy xã Lóng Sập và là đối tượng nghiện chất ma túy. Khoảng 14 giờ ngày 07/11/2019, Lường Văn Q đi bộ một mình từ nhà ở đến khu vực biên giới Việt Nam – Lào thuộc bản Buốc Pát, xã Lóng Sập, huyện Mộc Châu mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi Q gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết khoảng 50 tuổi. Qua trao đổi, Q hỏi mua được của người phụ nữ dân tộc Mông đó 01 gói bằng mảnh nilon màu trắng bên trong đựng 52 viên Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Q đi vào bụi cây ven đường lấy 02 viên Methamphetamine sử dụng hết, còn lại gói nilon màu trắng đựng 50 viên Methamphetamine Q cất giấu vào trong túi quần bên trái phía trước đang mặc rồi đi bộ về nhà. Khi Q đang đi bộ trên đường dân sinh bản Bó Sập, xã Lóng Sập thì bị tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu Lóng Sập đang làm nhiệm vụ kiểm tra, phát hiện, bắt giữ, thu giữ niêm phong vật chứng.

Cáo trạng số: 11/CT-VKS ngày 17/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Lường Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt bị cáo như sau:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Văn Q từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1; Điểm a, c khoản khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Lường Văn Q, bắt ngày 07/11/2019, bên trong đựng 45 viên = 4,11 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Lường Văn Q, bắt ngày 07/11/2019. KQ: Dương tính.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị Quyết số 326 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi và trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên toà, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; vật chứng đã thu giữ; biên bản mở niêm phong vật chứng, xác định số lượng, khối lượng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định và lời khai của người chứng kiên sư viêc. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 07/11/2019 Lường Văn Q đã có hành vi cất giấu trái phép 50 viên Methamphetamine có tổng khối lượng 4,56 gam, mục đích để bản thân sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma tuý. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3] Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có tài sản riêng gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 45 viên = 4,11 gam Methamphetamine là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành và vỏ gói niêm phong ban đầu là vật không có giá trị sử dụng, đều cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy đối với Lường Văn Q là vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

[5] Đối với người phụ nữ người dân tộc Mông đã bán ma túy cho Lường Văn Q. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn lại dưới 45 ngày, Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án hình sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lường Văn Q 4 (bốn) năm 6 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 07/11/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Lường Văn Q, bắt ngày 07/11/2019, bên trong đựng 45 viên = 4,11 gam Methamphetamine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Lường Văn Q, bắt ngày 07/11/2019. KQ: Dương tính.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lường Văn Q phải chiu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


23
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2020/HSST ngày 14/02/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:12/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mộc Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:14/02/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về