Bản án 12/2019/HSST ngày 28/03/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 12/2019/HSST NGÀY 28/03/2019 VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Trong các ngày 27 và 28 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2019/HSST ngày 07 tháng 3 năm 2019. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2019/QĐXXST – HS ngày 18 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Đình V, sinh năm 1994.

Nơi cư trú: A6, xã ĐT, huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Đình H và bà Nguyễn Thị L; Tiền án, tiền sự: Không Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/01/2019 cho đến nay (Có mặt)

- Bị hại: Trần Kim S, sinh năm 1991 (Có mặt) Địa chỉ: T8, xã NT, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 22/10/2018, Hà Đình V đến nhà anh Trần Kim S ở T8, xã NT, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước mượn xe mô tô biển số 93P2 - 01xxxđi mua điện thoại. Khi anh S giao xe cho V, V chạy xe xuống chợ Bù Na thuộc xã NT tìm mua điện thoại nhưng không có, nên V ghé tiệm bắn cá của anh Nguyễn Công Dũng chơi hết 1.100.000 đ, V chạy xe lòng vòng tại khu chợ Bù Na được khoảng 30 phút, thì V chạy xe quay lại tiệm bắn cá của anh Dũng. V nói anh Dũng cầm xe biển số 93P2 - 01xxxvới giá 5.000.000đ, bằng hình thức nếu V chơi thua thì Dũng nạp điểm cho V (một ngàn điểm tương đương 10.000đ). Khi V chơi thua hết 3.500.000đ, thì Bợm điều khiển xe mà V mượn của anh S đi đón Dũng lên, Dũng đưa cho V 1.500.000đ là thành 5.000.000đ. V nạp tiền chơi tiếp thua hết 300.000đ, rồi V lại điều khiển xe đi lòng vòng 01 lúc, quay lại chơi tiếp thì thua thêm 20.000.000đ, tổng cộng là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng). Do không có tiền trả cho anh Dũng, nên V cầm cố xe mô tô biển số 93P2 - 01xxxcho anh Dũng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 98/KL-ĐG ngày 27/12/2018 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Bù Đăng xác định: 01 xe mô tô biển số 93P2-014.17 tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 22/10/2018) có trị giá: 35.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình nêu trên. Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm về tội danh đã truy tố đối với bị cáo.

Vật chứng vụ án: 01 xe mô tô biển số 93P2-01xxxsố máy 3973xx, số khung 3787xx, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn Đỏ - Đen, cơ quan Công an xã NT, huyện Bù Đăng đã thu giữ trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Kim S.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Trần Kim S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số: 21/CT –VKS.BĐ ngày 05/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Hà Đình V về “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện viện kiểm sát khẳng định nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hà Đình V phạm “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; về hình phạt, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175, điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hà Đình V từ 24 đến 30 tháng tù.

Về vật chứng vụ án: Đề nghị xử lý theo pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tài sản, không yêu cầu gì thêm, nên không đặt ra Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Bị cáo Hà Đình V thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 22/10/2018, Hà Đình V đến nhà anh Trần Kim S ở T8, xã NT, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước mượn xe mô tô biển số 93P2 - 01xxxđể đi công việc riêng, tuy nhiên sau đó đã mang đi cầm cố lấy 25.000.000 đồng chơi game bắn cá. Tổng giá trị tài sản bị xâm hại là 35.000.000 đồng.

Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Hà Đình V đã phạm vào “Tội lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 175 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.

Như vậy, nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, chỉ vì lười lao động nhưng lại muốn được hưởng thụ. Bị cáo đã lợi dụng lòng tin của bị hại để có được tài sản, sau đó không trả lại tài sản, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác, đây là quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra hành vi của các bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trị an tại địa phương.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo có cha là thương binh hạng 4/4, được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Kim S đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng vụ án: xe mô tô biển số 93P2 - 01xxxđã được trả lại cho người bị hại là chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Đối với hành vi cầm cố xe của Nguyễn Công Dũng, do Dũng đã bỏ đi nơi khác, chưa làm việc được với Dũng. Cơ quan điều tra Công an huyện Bù Đăng tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Hà Đình V phạm “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng điểm a khoản 1, Điều 175, điểm i, s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Hà Đình V 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/01/2019.

[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Hà Đình V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


13
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2019/HSST ngày 28/03/2019 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:12/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bù Đăng - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 28/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về