Bản án 12/2019/HNGĐ-ST ngày 19/09/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

 BẢN ÁN 12/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 19 tháng 9 năm 2019, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2018/TLST-HNGĐ, ngày 19/12/2018 về việc ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số1476/2019./QĐXX-ST ngày 03 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Thanh H, sinh năm 1995

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; có mặt

- Bị đơn: Anh Dương Công S, sinh năm 1990

Nơi đăng ký hộ khẩu: Thôn T, xã Hải T, huyện B, tỉnh Quảng Bình; hiện trú tại: 45 Bligh Street Liverpool. Merseyside L 15 OHE, Vương quốc Anh; vắng mặt (anh Sự xin vắng mặt)

Tòa án có triệu tập ông Dương Văn H, sinh năm 1971, là bố của anh Dương Công S, địa chỉ: Thôn Tân Lý, xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình; có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 01/12/2018 được bổ sung tại bản tự khai đề ngày 14/01/2019 và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Hoàng Thi Thanh H trình bày:

Về quan hôn nhân: Chị và anh Dương Công S tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 08/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng do điều kiện kinh tế gặp khăn nên đầu năm 2014 vợ chồng thống nhất để anh Sự ra nước ngoài tìm kiếm việc làm, thời gian đầu khi mới ra nước ngoài vợ chồng vẫn hòa hợp, thường xuyên liên lạc hỏi thăm nhau. Đầu năm 2015, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Tình trạng này diễn ra nhiều năm, giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã mỗi khi liên lạc với nhau. Hiện tại vợ chồng không còn tình cảm nên chị H yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn anh Dương Công S.

Về con chung: Chị Hoàng Thị Thanh H trình bày vợ chồng có 01 con chung, Dương Phương N, sinh ngày 04/4/2014. Sau khi ly hôn, chị H có nguyện vọng trực tiếp nuôi con, yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Chị Hoàng Thị Thanh H trình bày: Vợ chồng không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật đối với bị đơn anh Dương Công S.

Tòa án nhận được Bản tự khai đề ngày 05/6/2019 của anh Dương Công S do dịch vụ bưu chính chuyển đến ngày 17/6/2019, tuy nhiên không có xác nhận của có xác nhận của cơ quan đại diện Việt Nam tại Anh Quốc.

Tại bản tự khai đề ngày 05/6/2019 anh Dương Công S trình bày: Anh và chị Hoàng Thị Thanh H tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 08/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn do hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn nên vợ chồng thống nhất để anh Sự ra nước ngoài làm ăn kiếm thêm thu nhập cho gia đình. Thời gian đầu mới xa nhau vợ chồng thường điện thoại quan tâm nhau. Năm 2015 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân vợ chồng không thống nhất các vấn đề trong cuộc sống dẫn đến vợ chồng thường xuyên xúc phạm nhau. Mâu thuẫn kéo dài không có khả năng hàn gắn khiến cho vợ chồng đầu thấy mệt mõi. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn nên chị Hoàng Thị Thanh H làm đơn ly hôn anh cũng nhất trí với yêu cầu giải quyết ly hôn.

Về con chung: Anh S trình bày vợ chồng có 01 con chung, Dương Phương N, sinh ngày 04/4/2014, hiện đang sống với bố mẹ anh S. Sau khi ly hôn, anh S có nguyện vọng trực tiếp nuôi con, trong thời gian anh S đang ở nước ngoài thì cháu Dương Phương N tiếp tục được bố mẹ anh S nuôi dưỡng vì chị H không có việc làm ổn định, thường xuyên xa nhà, không có điều kiện chăm sóc con.

Về tài sản chung: Anh S trình bày vợ chồng không có tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết, xét xử vụ án, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thu thập tài liệu, chứng cứ thực hiện đúng quy định và đảm bảo quyền lợi của người tham gia tố tụng.

Về nội dung: Xử cho chị Hoàng Thị Thanh H được ly hôn anh Dương Công S.

Về con chung: Xử giao cháu Dương Phương N cho anh Dương Công S trực tiếp nuôi dưỡng, chị H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng kể từ tháng 9/2019 cho đến khi cháu N tròn 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý của các đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn bị đơn anh Dương Công S, nơi đăng ký hộ khẩu: Thôn Tân L, xã H, huyện B, tỉnh Quảng Bình; địa chỉ cư trú: 45 Bligh Street Liverpool. Merseyside L 15 OHE, Vương quốc Anh. Đây là vụ án có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình đã tiến hành các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật đối với bị đơn anh Dương Công S. Ngày 17/6/2019 Tòa án nhận được Bản tự khai đề ngày 05/6/2019 của anh Dương Công S gửi về cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình, tuy nhiên không có xác nhận của có xác nhận của cơ quan đại diện Việt Nam tại Anh Quốc. Theo đơn yêu cầu giám định chữ ký đề ngày 05/8/2019 của chị Hoàng Thị Thanh H, ngày 14/8/2019 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình có Quyết định trưng cầu giám định số 1350/2019/QĐ-TCGĐ đối với chữ ký “Sự” tại mục người viết bản tự khai của Bản tự khai đề ngày 05/6/2019 của bị đơn Dương Công s.

Tại Kết luận giám định số 717/PC09(GĐ) ngày 22/8/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Bình kết luận: Chữ ký “S” dưới mục “Người viết bản tự khai” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký đứng tên Dương Công S dưới mục “Chồng (Ký, ghi rõ họ tên)” trên mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 (M1,M2 là ký hiệu của Giấy chứng nhận kết hôn số 21/2012, quyển số 01/2011, đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình ngày 08/5/2012 họ và tên chồng: Dương Công S, nơi thường trú/tạm trú: thôn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình, họ và tên vợ: Hoàng Thị Thanh H, nơi thường trú/tạm trú: thôn P, huyện B, tỉnh Quảng Bình) do cùng một người ký ra.

Tại phiên tòa anh Dương Công S vắng mặt nhưng có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt tại Bản tự khai đề ngày 05/6/2019 vì vậy Tòa án căn Điều 227; khoản 3 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự mở phiên tòa theo thủ tục chung.

[3]. Về hôn nhân: Anh Dương Công S và chị Hoàng Thị Thanh H tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 08/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Thanh Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình đây là hôn nhân kết hôn đúng pháp luật. Thời gian đầu sau khi đi xuất khẩu lao động vợ chồng vẫn thường liên lạc với nhau, từ năm 2015 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, hai bên không còn quan tâm đến hàn gắn hạnh phúc gia đình. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, nên cần căn cứ 56 Luật hôn nhân gia đình và gia đình xử cho chị Hoàng Thị Thanh H được ly hôn anh Dương Công S

[4]. Về con chung: Chị Hoàng Thị Thanh H và anh Dương Công S có một con chung Dương Phương N, sinh ngày 04/4/2014, hiện đang sống với bố mẹ anh S. Hội đồng xét xử xét thấy anh Dương Công S có nguyện vọng nuôi con tuy nhiên do điều kiện công việc nên anh đang ở nước ngoài không trực tiếp chăm sóc con. Trong thời gian ở nước ngoài anh thường xuyên liên lạc quan tâm đến cuộc sống của cháu N. Chị H ở Việt Nam nhưng chị cho rằng chị phải đi làm ăn xa không có điều kiện để nuôi dưỡng cháu N, tại phiên tòa chị H từ chối việc nuôi con, chị có nguyện vọng giao con cho anh S nuôi dưỡng. Thực tế cháu Dương Phương N hiện đang sống cùng ông bà nội (bố mẹ của anh S) được ông bà chăm sóc, nuôi dưỡng tốt về mọi mặt. Tại phiên tòa ông Dương Văn H cũng khai nuôi cháu N từ nhỏ đến giờ và xin nhận tạm nuôi cháy N trong thời gian anh Sự đang ở nước ngoài. Căn cứ Điều 58,81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình xử giao con chung cho anh S nuôi dưỡng, chị H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng là phù hợp. Tạm giao cháu Dương Phương N cho ông Dương Văn H và bà Trần Thị T (là bố mẹ của anh Sự) chăm sóc trong thời gian anh Dương Công S ở nước ngoài.

[5]. Về tài sản: Chị Hoàng Thị Thanh H và anh Dương Công S không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về án phí: Chị Hoàng Thị Thanh H chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn và phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật Về quyền kháng cáo: Chị Hoàng Thị Thanh H và anh Dương Công S có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ Luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 227, khoản 4 Điều 147, khoản 3 Điều 477; Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56,81,82,83,84 Luật hôn nhân và gia đình; các khoản 5,6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị Thanh H được ly hôn anh Dương Công S.

2. Về con chung: Xử giao cháu Dương Phương N, sinh ngày 04/4/2014 cho anh Dương Công S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chị Hoàng Thị Thanh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 (một triệu) đồng kể từ tháng 9/2019 cho đến khi cháu Dương Phương N tròn 18 tuổi. Trong thời gian anh Sự ở nước ngoài thì tạm giao cháu Dương Phương N cho ông Dương Văn H và bà Trần Thị T, đều trú tại thôn T, xã H, huyện Bố T, tỉnh Quảng Bình (bố mẹ của anh Dương Công S) trực tiếp chăm sóc.

Không ai được quyền cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền thăm nom và chăm sóc con chung. Trong trường hợp vì quyền lợi chính đáng của con chưa thành niên, các đương sự đều có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

3. Về án phí: Chị Hoàng Thị Thanh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0005123 ngày 14/12/2018 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình.

Án xử sơ thẩm công khai, chị Hoàng Thị Thanh H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Dương Công S có quyền kháng cáo trong thời hạn một tháng kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.


53
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2019/HNGĐ-ST ngày 19/09/2019 về ly hôn

Số hiệu:12/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:19/09/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về