Bản án 12/2019/HNGĐ-ST ngày 17/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA VŨNG TÀU

BẢN ÁN 12/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/04/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 55/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2019, về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXX-ST ngày 04 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lâm Quốc D, sinh năm 1954; địa chỉ số 1/7C ấp M, xã N, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1956; địa chỉ 65P, tổ 8, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 18 tháng 10 năm 2018 và quá trình tố tụng tại phiên tòa ông Lâm Quốc D trình bày: Ông Lâm Quốc D bà Nguyễn Thị C là vợ chồng sống chung từ năm 1987, đăng ký kết hôn tại UBND xã An Ngãi, huyện Long Điền, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, không ai ràng buộc áp đặt.

Quá trình chung sống có 01 người con chung là Lâm Thanh P sinh năm 1989. Cuộc sống chung không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng lạt lẽo, mâu thuẫn không thể hàn gắn được (ông D bà C đã tự sống ly thân từ năm 2007) đến nay nên ông D yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: có 01 con Lâm Thanh P, sinh năm 20-02-1989. Con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông D không yêu cầu giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 26-3-2019, bà Nguyễn Thị C xác nhận: bà với ông Lâm Quốc D sống chung năm 1987, có đăng ký kết hôn. Vào năm 2007, vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên đã tự sống ly thân từ năm 2007 đến nay. Hai người vẫn sống chung một nhà nhưng có phân chia khu vực để ở riêng tự ai nấy lo nhưng vì con chung Lâm Thanh P không chấp nhận cho cha mẹ ly hôn, bà C vẫn muốn duy trì quan hệ vợ chồng với ông D nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: có 01 con Lâm Thanh P sinh năm 1989 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nuôi dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ti thông báo số 01/TB-VKS ngày 05-4-2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền: Sau khi nghiên cứu hồ sơ thụ lý số 55/TBTL-HNGĐ ngày 18-01-2019 giữa nguyên đơn ông Lâm Quốc D và bị đơn bà Nguyễn Thị C thì thấy: Do trong quá trình chuẩn bị xét xử thẩm phán không thu thập chứng cứ nên không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Ông Lâm Quốc D yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị C nên xác định quan hệ tranh chấp là ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà C hiện cư trú tại huyện Long Điền nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bà C có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt bà C theo quy định tại khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Lâm Quốc D và bà Nguyễn Thị C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1987, đăng ký kết hôn tại UBND xã An Ngãi huyện Long Điền nên hôn nhân giữa ông D và bà C là hôn nhân hợp pháp. Theo ông D bà C xác nhận: Vợ chồng sống chung với nhau tại ấp An Lộc xã An Ngãi, huyện Long Điền. Cuộc sống chung hạnh phúc, năm 2007 thì phát sinh mâu thuẫn là do tính tình không hợp và bất đồng quan điểm sống, ông D bà C tự ngăn khu vực sống ly thân, mạnh ai nấy lo không còn quan tâm nhau. Ông D yêu cầu ly hôn bà C cho rằng con chung không muốn cha mẹ ly hôn nên bà không đồng ý. Tại bản tự khai chính bà C xác nhận bà tự sống ly thân ông D từ năm 2007 đến nay, đã phân chia khu vực để sống riêng tự ai nấy lo. Đối chiếu theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của ông D bà C lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt nên yêu cầu ly hôn của ông D là có căn cứ.

[2.2] Về quan hệ con chung: có 01 con Lâm Thanh P, sinh năm 20-02-1989. Con chung đã trưởng thành nên không giao quyền nuôi dưỡng

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông D bà C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[3] Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Ông D phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D đối với bà C.

- Về quan hệ hôn nhân: Ông Lâm Quốc D được ly hôn bà Nguyễn Thị C .

- Về con chung: đã trưởng thành.

- Về tài sản chung và nợ chung: ông D bà C không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Lâm Quốc D nộp 300.000(Ba trăm ngàn) đồng nhưng được trừ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009870 ngày 10-01-2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Điền. Ông D đã nộp xong án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


28
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2019/HNGĐ-ST ngày 17/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:12/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Điền - Bà Rịa - Vũng Tàu
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 17/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về