Bản án 12/2018/HS-ST ngày 12/04/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 12/2018/HS-ST NGÀY 12/04/2018 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 12 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2018/TLST - HS ngày 06 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2018/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Ngọc N; Sinh năm 1993; Tên gọi khác: Không, tại Thôn H, xã G, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: N; Quốc tịch: Việt N; Con ông: Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1969 và bà Giáp Thị L, sinh năm 1973; Có vợ: Nông Thị T, sinh năm 1997 và có 01 con sinh năm 2017.

- Tiền sự: Không.

- Tiền án: Bản án số: 66/2015/HSST ngày 29/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xử phạt Nguyễn Ngọc N 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 02/5/2016, N chấp hành xong bản án.

- Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87/CATP ngày 04/7/2014 của Công an thành phố Bắc Giang xử phạt Nguyễn Ngọc N 1.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/12/2017 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Thân Văn K, sinh năm 1979; ( vắng mặt)

STQ: Thôn K, xã S, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 8 giơ ngay 11/12/2017, Nguyễn Ngọc N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Sirius màu trắng xám bạc, BKS 98N6-8568 đi từ nhà đến khu vực cổng Công viên Hoàng Hoa Thám ở đường Hùng Vương, thành phố Bắc Giang để tìm mua ma túy về sử dụng và bán lại kiếm lời. Khi đến nơi N gặp một người phụ nữ không quen biết, N hỏi người phụ nữ này “có ma túy đá bán không” thì người phụ nữ trả lời “có”, N nói với người phụ nữ “bán cho 1.000.000 đồng ma túy đá” và đưa cho người phụ nữ này 1.000.000 đồng, người phụ nữ nhận tiền rồi lấy từ túi xách ra 01 túi ni lông có rãnh khóa bằng nhựa viền màu xanh bên trong đựng ma túy đá đưa cho N. N cầm túi ni lông đựng ma túy đá cất vào trong ví rồi điều khiển xe mô tô đi về, khi về nhà N lấy túi ma túy ra chia một ít ma túy vào 01 túi ni lông khác rồi hàn kín lại, N cất 02 túi ni lông đựng ma túy vào trong ví rồi để chiếc ví này vào trong chiếc túi xách màu đen của N. Khoảng 14 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô BKS 98N6-8568 cầm theo chiếc túi xách bên trong đựng ma túy đi đến Thôn C, xã G, huyện Yên Dũng chơi thì gặp anh Đặng Quang T, sinh năm 1959 ở thôn Chùa, xã Thái Đào, huyện Lạng Giang điều khiển xe mô tô chở sau là anh Thân Văn K. Do biết N có ma túy bán nên K bảo anh T dừng xe rồi đi đến chỗ N hỏi “ có hàng không bán cho cái 300.000 đồng” ý nói mua 300.000 đồng ma túy đá, N hiểu ý nên trả lời là “Có” và đưa cho K 01 túi ni lông đựng ma túy đá, K cầm túi ni lông này cất vào trong túi quần phía sau bên trái và đưa cho N 300.000 đồng, khi N đang nhận tiền của K thì bị tổ công tác Công an huyện Yên Dũng bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: 01 túi ni lông màu trắng trong túi quần phía sau bên trái Thân Văn K đang mặc có đặc điểm có rãnh khóa bằng nhựa viền màu xanh bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy nên đã niêm phong trong 01 phong bì thư ký hiệu “QT1”; 01 túi ni lông màu trắng trong chiếc ví mầu nâu đựng trong túi xách màu đen bên ngoài túi xách có dòng chữ “Jeep” của Nguyễn Ngọc N có đặc điểm rãnh khóa bằng nhựa viền màu xanh bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là chất ma túy nên đã niêm phong trong 01 phong bì ký hiệu “QT2”; 300.000 đồng trong lòng bàn tay trái của N; Thu của N 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vertu, 01 chiếc ví mầu nâu, 01 chiếc túi xách màu đen có dòng chữ “Jeep”, 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng – đen – bạc, BKS 98N6-8568.

Tại bản kết luận giám định số: 1920/KL-PC54 ngày 14/12/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận:

"5.1. Trong 01 phong bì có ký hiệu "QT1" đã được niêm phong gửi giám định: tinh thể màu trắng đựng trong 01 tui ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viên màu xanh là chất ma túy Methamphetamine; có khối lượng: 0,163 gam.

5.2. Trong 01 phong bì có ký hiệu "QT2" đã được niêm phong gửi giám định: tinh thể màu trắng đựng trong 01 tui ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viên màu xanh là chất ma túy Methamphetamine; có khối lượng: 0,919 gam."

Đối với Thân Văn K có hành vi mua ma túy của N để sử dụng nhưng K chưa có tiền án về tội phạm ma túy, khối lượng chất ma túy thu giữ của K chưa đủ định lượng để xử lý về hình sự nên ngày 02/3/2018, Công an huyện Yên Dũng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K.

Đối với anh Đặng Quang T có hành vi chở K đi đến khu vực Thôn C, xã G, huyện Yên Dũng để K tìm mua ma túy nhưng anh T không biết việc K đi mua ma túy nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho N, do N không biết tên tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng không xác minh xử lý được.

Vật chứng của vụ án gồm: 02 phong bì được niêm phong có ký hiệu “QT1”, “QT2” bên trong chứa chất ma túy methamphetamine; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vertu; 01 chiếc ví mầu nâu, 01 chiếc túi xách màu đen có dòng chữ “Jeep” và 300.000 đồng được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng để giải quyết theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, Nguyễn Ngọc N thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Với nội dung trên, tại bản Cáo trạng số: 15/CT-VKS ngày 06/3/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng đã truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc N có hành vi và lý lịch nêu trên ra trước Toà án nhân dân huyện Yên Dũng để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra cho xã hội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 194, Điều 38, khoản 1 điều 47, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106, khoản 2 điều 136, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Xử phạt:

Nguyễn Ngọc N từ 3 năm 06 tháng đến 4 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/12/2017.

Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo 05 triệu đồng sung vào ngân sách Nhà Nước.

- Vật chứng vụ án:

Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì được niêm phong có ký hiệu “QT1”, “QT2” bên trong chứa chất ma túy methamphetamine; 01 chiếc ví mầu nâu, 01 chiếc túi xách màu đen có dòng chữ “Jeep”.

Tịch thu sung và ngân sách Nhà Nước 300.000 đồng;

Trả cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vertu nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Sau khi nghe bản luận tội và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khoảng 8 giờ ngày 11/12/2017, Nguyễn Ngọc N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirius, BKS 98N6- 8568 từ nhà đến khu vực cổng công viên Hoàng Hoa Thám ở thành phố Bắc Giang mua của một người phụ nữ không quen biết 01 túi ni lon đựng ma túy dạng đá rồi đem về nhà chia thành 02 túi lon đựng ma túy đá để bán lại kiếm lời.  Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô BKS 98N6- 8568 cầm theo 02 túi ni lon đựng ma túy đi đến khu vực Thôn C, xã G, huyện Yên Dũng bán cho Thân Văn K 01 túi ni lon đựng ma túy đá với giá 300.000 đồng, khi N đang nhận tiền của K thì bị bắt quả tang. Thu giữ trên người K 01 túi ni lon đựng ma túy Methamphetamine có khối lượng: 0,163 gam; Thu trên người N 300.000 đồng tiền bán ma túy, 01 túi ni lon đựng ma túy Methamphetamine có khối lượng: 0,919 gam. Tổng số ma túy trong 02 túi ni lon thu giữ trên người N và K có khối lượng 1.082 gam; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vertu; 01 chiếc ví mầu nâu, 01 chiếc túi xách màu đen có dòng chữ “Jeep” và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, BKS 98N6- 8568.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang và vật chứng đã được thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo: Nguyễn Ngọc N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 như Viện kiểm sát đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà Nước về quản lý các chất ma túy, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến các chính sách phát triển Kinh tế - Xã hội của Nhà Nước, ảnh hưởng đến sức khỏe, gia đình, hơn nữa ma túy cũng là mầm mống, nguyên nhân phát sinh một số tội phạm khác. Do vậy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội và có mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét về nhân thân của bị cáo thấy:

Bị cáo có nhân xấu: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 87/CATP ngày 04/7/2014 của Công an thành phố Bắc Giang xử phạt Nguyễn Ngọc N 1.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tại bản án số: 66/2015/HSST ngày 29/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xử phạt Nguyễn Ngọc N 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 02/5/2016, N chấp hành xong bản án. Nhưng cho đến nay chưa được xóa án tích, nên lần phạm tội này là tái phạm, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, do vậy cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự

- Hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử thấy bị cáo bán ma túy nhằm mục đích kiếm lời, do vậy ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo để nâng cao hiệu quả giáo dục và để thực hiện tốt công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm theo quy định tại khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999.

- Vật chứng vụ án: 02 phong bì được niêm phong có ký hiệu “QT1”, “QT2” bên trong là chất ma túy Methamphetamine không được sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. 01 chiếc ví mầu nâu, 01 chiếc túi xách màu đen có dòng chữ “Jeep” xét thấ có giá trị sử dụng không lớn cũng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 300.000 đồng, đây là số tiền thu lời bất chính, do vậy cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà Nước;

Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vertu, xét thấy đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo cần trả lại cho cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius, BKS 98N6- 8568 quá trình điều tra xác định là của anh Lê Minh V, sinh năm 1985 ở thôn 2, xã Tân Bình, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai là vật chứng của vụ án “Cướp tài sản” xảy ra tại huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai nên ngày 28/02/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng đã chuyển chiếc xe mô tô trên đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai để giải quyết theo thẩm quyền là đúng pháp luật.

Đối với Thân Văn K có hành vi mua ma túy của Nguyễn Ngọc N để sử dụng nhưng trọng lượng chất ma túy Methamphetamine thu giữ của K chưa đủ định lượng để xử lý về hình sự và bản thân  K chưa có tiền án, tiền sự nên ngày 02/3/2018, Công an huyện Yên Dũng đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với K với hình thức phạt tiền 1.500.000đ là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với anh Đặng Quang T có hành vi chở K đi đến khu vực Thôn C, xã G, huyện Yên Dũng để K tìm mua ma túy nhưng anh T không biết việc K đi mua ma túy nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho N, do N không biết tên tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Dũng không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo theo luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Ngọc N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1, khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999, Điều 38, khoản 1 điều 47, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 106, khoản 2 điều 136, 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử phạt: Nguyễn Ngọc N 3 (Ba) năm 06 (Sáu) Tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 11/12/2017.

Phạt bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng chẵn) sung vào ngân sách Nhà Nước.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, Cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án, nếu bị cáo không nộp số tiền phạt nêu trên thì hành tháng bị cáo còn phải chịu lãi theo mức mãi suất 10%/năm tương ứng với số tiền, thời gian chưa thi hành án.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì được niêm phong có ký hiệu “QT1”, “QT2” bên trong là chất ma túy Methamphetamine, 01 chiếc ví mầu nâu, 01 chiếc túi xách màu đen có dòng chữ “Jeep”.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 300.000 đồng.

Trả cho cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vertu nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 3 năm 2018 giữa Công an huyện Yên Dũng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng và giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 26 /01/2018 của Công an huyện Yên Dũng).

Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2018/HS-ST ngày 12/04/2018 về tội mua bán trái phép chất ma túy

Số hiệu:12/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Dũng - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:12/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về