Bản án 12/2018/HS-PT ngày 25/01/2018 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 12/2018/HS-PT NGÀY 25/01/2018 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 25 tháng 01 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 251/2017/TLPT-HS ngày 27 tháng 12 năm 2017 đối với các bị cáo Ngô Minh T và Trần Hiền V do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 38/2017/HS-ST ngày 22 tháng 11 năm 2017 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng.

Các bị cáo có kháng cáo:

Ngô Minh T (Đ), sinh ngày 03 tháng 08 năm 1982 tại Quảng Nam. Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn M, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Ngô Đình B; Mẹ: Phạm Thị T; Có vợ Thái Thị Trúc L và 02 con (con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt giam ngày 10/10/2017, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho tại ngoại ngày 20/10/2017, có mặt tại phiên tòa.

Trần Hiền V (L), sinh  ngày 14 tháng 4 năm 1995 tại Quảng  Nam.  NơiĐKNKTT và chỗ ở: Tổ 01, Khối phố N, phường A, thị xã B, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: không rõ; Mẹ Trần Thị N; Tiền án; tiền sự: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Viết H không có kháng cáo và không bị kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ ánđược tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 04/5/2017, Ngô Minh T cùng với Nguyễn Viết H đến công trình Cocobay, thuộc tổ 133, phường H, quận S để tổ chức chơi đánh bạc (xóc dĩa) cùng với nhóm công nhân trong công trình tại nhà kho techgel. Tại đây, T hỏi mượn chén dĩa của nhóm công nhân để chơi xóc dĩa thì giữa T và ông Lê Văn T xảy ra mâu thuẫn, đòi đánh nhau. Sau đó T cùng H ra về. Lúc này, ông T có gọi điện thoại cho Nguyễn Hoàng N nói về việc xảy ra mâu thuẫn với T, N có nói với T sẽ đứng ra hòa giải hai bên.

Sau đó, N đến trước cổng công trình Cocobay gặp T. T và N có điện thoại cho T hẹn gặp để nói chuyện. Lúc này T và H đang ngồi ăn cơm, T nói cho H biết T hẹn gặp trước cổng Cocobay. T và H thống nhất điện thêm Trần Hiền V và một người tên C (chưa xác định được lai lịch) nói “Anh với thằng H xuống công trình Cocobay chơi, có thằng T gây gổ, em cố gắng chạy xuống giúp anh với” (ý T là rủ xuống đánh T). V và C đồng ý. Trong lúc T điện thoại thì H lấy xe mô tô của T biển kiểm soát 92E1-24097 chạy về nhà lấy 01 con dao (dài 60cm) quấn trong áo rồi chạy đến gặp T. T chở H xuống công trình Cocobay gặp C cùng với bốn thanh niên (chưa rõ lai lịch) cầm vỏ chai thủy tinh (loại chai nước khoáng Đảnh Thạnh) đứng chờ tại ngã ba đường biển. Lúc này, V chạy xe mô tô hiệu Sirius biển kiểm soát 92D1-47379 đến nhà H lấy theo 01 cây ba khúc bỏ vào trong cốp xe chạy đến ngã ba đường biển thuộcphường N, thị xã B.

Đến khoảng 14 giờ 20 phút cùng ngày, sau khi gặp nhau, T chở H, V, C (mỗi người điều khiển một xe), cùng với bốn thanh niên điều khiển 02 xe mô tô mang theo hung khí đến quán nước trước cổng công trình Cocobay. Khi đến nơi, T đi trước phát hiện ông T và N đang ngồi trong quán nước cùng với hai người khách. T dừng xe chỉ tay vào quán nói: “Thằng đội mũ công nhân màu xanh là thằng T đó”. Ngay lập tức cả nhóm xông vào đuổi đánh ông T, mọi người bỏ chạy, T chạy vào cổng công trình Cocobay thì bị ngã nên bị nhóm của T gồm H, C, T cùng bốn thanh niên (chưa rõ lai lịch) đuổi theo. H dùng dao chém vào vai, T dùng tay chân đánh vào người của ông T, tiếp đó nhóm của T kéo ông T ra ngoài công trình dùng vỏ chai nước khoáng bằng thủy tinh đập vào đầu. Còn riêng V cầm cây ba khúc đuổi theo N để đánh nhưng N bỏ chạy. Khi thấy ông T bị thương tích, nhóm của T dừng lại không đánh nữa và bỏ đi về. Còn ông T được N đưa lên xe taxi chở đi cấp cứu tại bệnh viện.

Hậu quả: Ông Lê Văn T bị chấn thương sọ não, chấn thương vai trái và các tổnthương phần mềm. Tỉ lệ thương tích là 25%.

Tang vật tạm giữ: 01 xe mô tô hiệu Airblack màu hồng-đen biển kiểm soát 92E1-24097 không có gương chiếu hậu bên trái; 01 xe mô tô hiệu Sirius màu xám-đen biển kiểm soát 92D1-47379 và một số tài sản, đồ vật khác.

Với nội dung như trên tại bản án hình sự sơ thẩm số 38/2017/HSST ngày 22/11/2017 của Toà án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn đã quyết định:

- Căn cứ khoản 2 Điều 104; điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt: Ngô Minh T 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích (được trừ đi 10 ngày bị tạm giam trước đây), còn lại 29 tháng 20 ngày tù bị cáo phải chấp hành, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ khoản 2 Điều 104; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Xử phạt: Trần Hiền V 24 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

- Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự, Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe máy hiệu Sirius màu xám - đen biển kiểm soát 92D1-47379 do bị cáo Trần Hiền V đứng tên chủ sở hữu.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về phần hình phạt đối với Nguyễn Viết H nhưng bị cáo H không có kháng cáo và cũng không bị kháng cáo, không bị kháng nghị, tuyên xử lý một số tài sản, đồ vật khác, phần án phí và thông báo quyền kháng cáo.

Ngày 06 tháng 12 năm 2017, bị cáo Ngô Minh T có đơn kháng cáo với nội dung: Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 30 tháng tù là quá nặng, xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

Ngày 04 tháng 12 năm 2017, bị cáo Trần Hiền V có đơn kháng cáo với nội dung: Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 24 tháng tù là quá nặng, xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Đồng thời, xin trả lại cho bị cáo chiếc xe máy hiệu Sirius màu xám - đen biển kiểm soát 92D1-47379 do bị cáo đứng tên chủ sở hữu.

Taị phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Đơn kháng cáo của các bị cáo Ngô Minh T và Trần Hiền V có đầy đủ nội dung theo thủ tục kháng cáo và nằm trong thời hạn kháng cáo nên đảm bảo hợp lệ. Tại phiên tòa bị cáo Ngô Minh T tự nguyện rút kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo T. Xét nội dung đơn kháng cáo của bị cáo Trần Hiền V thì thấy bị cáo đã cùng các đồng phạm sử dụng hung khí đánh, chém gây thương tích cho người bị hại 25%. Hành vi phạm tội của bị cáo mang tính chất côn đồ. Do đó bản án sơ thẩm số 38/2017/HSST ngày 22/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn xét xử bị cáo Trần Hiền V về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 của Bộ luật hình sự 1999 là có căn cứ, đúng tội. Bản án sơ thẩm cũng đã xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự 1999, xử phạt bị cáo Trần Hiền V 24 tháng tù là không nặng. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo tham gia phạm tội với vai trò giúp sức, không trực tiếp gây thương tích cho người bị hại, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Mặt khác, theo đơn bãi nại ngày 18 tháng 09 năm 2017 của người bị hại Lê Văn T (bút lục 186) thể hiện: Sau khi phạm tội, bị cáo đã ăn năn hối cải, cùng với Ngô Minh T, Nguyễn Viết H đến bệnh viện thăm hỏi sức khỏe, bồi thường tiền thuốc men chongười bị hại nên người bị hại xin bãi nại cho T, H, V. Nhưng án sơ thẩm chưa áp dụngđiểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xửchấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Hiền V, áp dụng thêm điểm b khoản 1Điều 46 Bộ luật hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về chiếc xe đề nghị Hội đồng xét xử giữ y án sơ thẩm vì bị cáo sử dụng xe đi đánh nhau nên án sơ thẩm tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước là có căn cứ.

Tại phiên tòa bị cáo Ngô Minh T tự nguyện rút kháng cáo, bị cáo Trần Hiền V cũng thừa nhận bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự là đúng tội và bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo của bị cáo.

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Ngô Minh T tự nguyện rút kháng cáo nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342, Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Ngô Minh T.

Đối với bị cáo Trần Hiền V cũng đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 14 giờ 20 phút ngày 04/5/2017, tại khu vực trước cổng công trình Cocobay thuộc tổ 133 phường H, quận S, thành phố Đà Nẵng, Ngô Minh T, Nguyễn Viết H, Trần Hiền V cùng một số đối tượng (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) đã có hành vi dùng dao, vỏ chai nước khoáng, cây ba T với tỷ lệ 25%. Do đó, bản án sơ thẩm số 38/2017/HSST ngày 22/11/2017 của Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Trần Hiền V về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Hiền V: Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnhhưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Bị cáo đã cùng các đối tượng khác sử dụng dao, vỏ chai nước khoáng, cây ba  khúc là các hung khí nguy hiểm để đánh, chém gây thương tích cho người bị hại. Hành vi phạm tội của bị cáo là có tính chất côn đồ, do đó đối với bị cáo cần phải xử phạt thỏa đáng, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Sau khi phạm tội bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã đến thăm hỏi và bồi thường cho nguời bị hại; người bị hại đã bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo (thể hiện qua đơn bãi nại ngày 18 tháng 09 năm 2017 của người bị hại -bút lục 186 và giấy xác nhận ngày 24 tháng 01 năm 2018 của người bị hại) nhưng án sơ thẩm chưa áp dụng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả cho bị cáo là thiếu xót; Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Mặt khác, trong vụ án này, bị cáo chỉ tham gia phạm tội với vai trò đồng phạm, giúp sức, không trực tiếp gây thương tích cho người bị hại Lê Văn T. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 24 tháng tù là có phần nghiêm khắc. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo sửa án sơ thẩm giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Bản án sơ thẩm cũng nhận định Điều134 Bộ luật hình sự 2015 có lợi cho bị cáo nhưng phần Quyết định vẫn áp dụng Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 đối với bị cáo là không đúng. Hội đồng xét xử sẽ điều chỉnh lại cho phù hợp, đồng thời cũng áp dụng các quy định có lợi về tình tiết giảm nhẹ của Bộ luật hình sự 2015 cho bị cáo.

Về chiếc xe máy thu giữ của bị cáo Trần Hiền V, đây là tài sản của bị cáo nhưng bị cáo đã dùng để đi phạm tội nên án sơ thẩm tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước là có căn cứ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, bản án sơ thẩm tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với chiếc xe của bị cáo V nhưng lại không buộc bị cáo V giao nộp giấy đăng ký chiếc xe này là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử cũng sửa lại phần này buộc bị cáo V phải giao nộp lại giấy đăng ký xe để đảm bảo việc thi hành án đối với chiếc xe.

[3] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ Điều 342, Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Ngô Minh T. Bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo T.

2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; khoản 3 Điều 7 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015:

Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Trần Hiền V, sửa án sơ thẩm.

Xử phạt: Trần Hiền V 18 (mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Căn cứ Điều 41 Bộ luật hình sự 1999, Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe máy hiệu Sirius biển kiểm soát 92D1-47379, số khung 3240GY014859, số máy E3X9E040110 do Trần Hiền V đứng tên chủ sở hữu. Buộc bị cáo Trần Hiền V phải giao nộp giấy đăng ký của xe 92D1-47379 đứng tên Trần Hiền V để đảm bảo việc thi hành án đối với chiếc xe.

3. Về án phí: Áp dụng điểm g, h Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáoNgô Minh T, Trần Hiền V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


94
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về