Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 26/02/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 12/2018/HNGĐ-ST NGÀY 26/02/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 26 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, xét xử công khai vụ án thụ lý số thụ lý số 448/2017/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2018/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Võ Thành L - sinh năm 1991. HKTT: ấp P, xã L, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Chị Trần Thị Thu N - sinh năm 1991. HKTT: Ấp Đ, xã T, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai. (Anh L có mặt; chị N vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 11/10/2017; bản tự khai ngày 27/11/2017; biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và biên bản hòa giải ngày 02/01/2018 và ngày 22/01/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn là anh Võ Thành L trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị N tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 108 ngày 22/10/2014. Sau đó anh và chị N tổ chức đám cưới vào cuối tháng 11/2014. Nhưng sau khi tổ chức đám cưới được 05 ngày thì chị N tự ý bỏ về cha mẹ chị N sinh sống tại xã T, huyện Định Quán sinh sống cho đến nay và không trở về nữa. Gia đình hai bên đã nhiều lần khuyên ngăn, hòa giải nhưng vẫn không được. Chị và anh N đã sống ly thân từ tháng 11/2014 cho đến nay. Nay anh nhận thấy cuộc sống vợ chồng vẫn không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị N.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn chị Trần Thị Thu N: Sau khi Tòa án tiến hành thụ lý vụ án đã tiến hành tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng chị N vẫn không đến Tòa án làm việc theo giấy triệu tập của Tòa án tại các buổi làm việc, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không thể tiến hành ghi nhận ý kiến của chị N.

Tại phiên Tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; về quan hệ pháp luật, xác định tư cách pháp lý của đương sự, thẩm quyền thụ lý của Tòa án, thủ tục thu thập chứng cứ đúng quy định; quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ, thủ tục cấp tống đạt cho các đương sự đảm bảo theo quy định pháp luật. Các quyền nghĩa vụ của đương sự được đảm bảo thực hiện. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật nên Viện kiểm sát không có ý kiến hay kiến nghị gì.

1) Về hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Võ Thành L. Cho anh L được ly hôn với chị Trần Thị Thu N.

2) Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, không giải quyết.

3) Về án phí: Anh Võ Thành L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn chị Trần Thị Thu N hiện cư trú tại ấp Đ, xã T, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Định Quán theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ pháp luật: Anh L yêu cầu khởi kiện ly hôn với chị N nên xác định quan hệ pháp luật trong vụ án là "Tranh chấp ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về xác định tư cách đương sự: Anh Võ Thành L là nguyên đơn; chị Trần Thị Thu N là bị đơn theo Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị Trần Thị Thu N nhưng chị N vắng mặt đến lần thứ 2 mà không có lý do chính đáng vì vậy Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Về hôn nhân: Qua việc thu thập chứng cứ tại chính quyền địa phương các biên bản xác minh ngày 28/11/2017 (từ BL 21-23) cùng tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện chị N và anh L tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 22/10/2014. Cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp nhau nên thường xuyên xảy ra xung đột trong cuộc sống; chị N và anh L hiện sống ly thân với nhau. Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định về tình nghĩa vợ chồng quy định "Vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau". Xét thấy cuộc sống hôn nhân của chị N, anh L lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay anh L yêu cầu ly hôn nên chấp nhận cho anh L được ly hôn với chị N. Theo quy định tại Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[6] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét.

[8] Về án phí: Anh Võ Thành L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán là phù hợp với chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đúng pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1) Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Võ Thành L. Anh Võ Thành L được ly hôn với chị Trần Thị Thu N.

2) Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, không giải quyết.

3) Về án phí: Anh Võ Thành L phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm về ly hôn được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh L đã nộp theo biên lai số 004516 ngày 21/11/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán. Anh L đã nộp đủ án phí.

Anh Võ Thành L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từngày tuyên án.

Chị Trần Thị Thu N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết công khai theo quy định pháp luật.


68
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 26/02/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:12/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Định Quán - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:26/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về