Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 20/09/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung 

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 12/2018/HNGĐ-ST NGÀY 20/09/2018 TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 20 tháng 9 năm 2018 tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Cẩm X, tỉnh Hà T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 110/2018/TLST-HNGĐ ngày 6 tháng 9 năm 2018 về việc Hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2018/QĐXX-ST ngày 6 tháng 9 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Dương Thị H, sinh năm 1987; Trú tại: thôn Hạ L, xã Tiên S, huyện Việt Y, tỉnh Bắc G, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1988; Trú quán: Thôn 5, xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T, vắng mặt (đã bị tòa án nhân dân huyện Cẩm X tuyên bố mất tích).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 3/7/2018, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Dương Thị H trình bày: Chị và anh Trần Văn T kết hôn vào ngày 30/6/2010, được tự do tìm hiểu đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T. Sau khi kết hôn vợ chồng về sống tại thôn Hạ L, xã Tiên S, huyện Việt Y, tỉnh Bắc G, tình cảm vợ chồng hòa thuận được khoảng 5 năm thì phát sinh mâu thuẫn, vào cuối năm 2015 anh T bỏ nhà ra đi cho đến nay không có tin tức gì cũng không có trách nhiệm gì với vợ con. Chị H đã nhờ người thân bạn bè tìm kiếm anh T nhưng vẫn không có tin tức gì. Do đó ngày 01/3/2018 chị H làm  đơn gửi đến Tòa án huyện Cẩm X đề nghị Tòa án căn cứ pháp luật nhắn tin trên phương tiện thông tin đại chúng (như báo và đài tiếng nói Trung ương). Nếu không có tin tức gì của anh T thì chị H đề nghị Tòa án tuyên bố anh Trần Văn T mất tích theo quy định của pháp luật. Sau 4 tháng nhắn tin trên báo công lý và đài tiếng nói Việt Nam nhưng đến nay anh Trần Văn T vẫn không có mặt. Vào ngày 06/8/2018 Tòa án nhân dân huyện Cẩm X đã ra quyết định số 02/2018/QĐSD-ST tuyên bố anh Trần Văn T mất tích. Nay chị H thấy không còn tình cảm với anh T nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T.

Về con chung: Chị Dương Thị H trình bày: Vợ chồng chị H anh T có 01 con chung tên là Trần Anh T, sinh ngày 19/9/2009 hiện nay cháu đang ở với chị H tại thôn Hạ L, xã Tiên S, huyện Việt Y, tỉnh Bắc G, Chị H có nguyện vọng xin được nuôi con và không yêu cầu anh T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Dương Thị H trình bày: Trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Chị Dương Thị H trình bày: Trong quá trình chung sống vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm X phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận xử cho chị Dương Thị H được ly hôn anh Trần Văn T; về con chung: căn cứ các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, giao con chung là cháu Trần Anh T, sinh ngày 19/9/2009 cho chị Dương Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng chấp nhận nguyện vọng của chị Dương Thị H không yêu cầu anh Trần Văn T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản, về nợ: vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung, chị H không yêu cầu nên VKS không đề nghị xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền: Chị Dương Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung sau khi ly hôn đối với anh Trần Văn T, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm X, tỉnh Hà T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Hiện nay chị Dương Thị H làm đơn xin ly hôn anh Trần Văn T vì lý do anh Trần Văn T đã bị Tòa án huyện cẩm X tuyên bố mất tích từ tháng 8/2018 cho đến nay, đã có quyết định của Tòa án nhân dân huyện Cẩm X tuyên bố về việc anh Trần Văn T bị mất tích, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 227 BLTTDS Tòa án nhân dân huyện Cẩm Xuyên tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Văn T.

[3] Xét về yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị H Hội đồng xét xử xét thấy:

* Về hôn nhân: Chị Dương Thị H và anh Trần Văn T tự do tìm hiểu, hôn nhân tự nguyện, kết hôn vào ngày 30/06/2010, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Cẩm L, huyện Cẩm X, tỉnh Hà T. Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống tại thôn Hạ L, xã Tiên S, huyện Việt Y, tỉnh Bắc G, tình cảm vợ chồng sống với nhau hòa thuận và hạnh phúc được 5 năm thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do anh T thường xuyên rượu chè, cờ bạc về nhà đánh đập chị Huệ, đến khoảng cuối năm 2015 thì anh T bỏ nhà đi không liên lạc về gia đình và biệt tích từ đó cho đến nay. Hiện nay chị H làm đơn xin ly hôn anh T vì lý do anh T đã bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm X tuyên bố mất tích theo quyết định tuyên bố mất tích số 02/2018 ngày 06/8/2018. Sau khi xem xét lời trình bày của chị H và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án cũng như các văn bản xác nhận của UBND xã Cẩm L. Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích hôn nhân là để xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng chị Huệ và anh T đã sống ly thân từ lâu, anh T đã bỏ nhà ra đi từ cuối năm 2015 chị H đã cùng với gia đình, bạn bè tìm kiếm và đã đăng thông báo tìm kiếm trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng cho đến nay vẫn không có tin tức gì của anh T. Tại phiên tòa hôm nay chị Dương Thị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T. Do đó HĐXX xét thấy tình cảm vợ chồng giữa hai người đã không còn, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của cuộc hôn nhân không đạt được. Cần áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 56, điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 cho chị Dương Thị H được ly hôn với anh Trần Văn T.

* Về con chung: Tại hồ sơ và trước phiên tòa hôm nay chị H xin được nuôi cháu Tân và không yêu cầu anh T đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử thấy hiện nay anh T đã bị Tòa án tuyên bố mất tích và cháu T hiện đang sống và học tập cùng với chị H tại thôn Hạ L, xã Tiên S, huyện Việt Y, tỉnh Bắc G cuộc sống của cháu T đang ổn định và nhằm đảm bảo cho cháu T phát triển tốt về cả thể chất lẫn tinh thần và có điều kiện thuận lợi trong học tập. Vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu Trần Anh T, sinh ngày 19/9/2009 cho chị Dương Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp với các điều 81, điều 82, điều 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Chị H không yêu cầu anh T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.

* Về tài sản chung: Theo lời khai của chị H trong quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Nên HĐXX không xem xét.

* Về nợ: Theo lời khai của chị H trong quá trình chung sống vợ chồng không nợ ai và không ai nợ vợ chồng. Nên HĐXX không xem xét.

* Về án phí: Chị Dương Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 28, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 1,4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 điều 68 BLDS năm 2015; Căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 2 điều 56, điều 57; điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Căn cứ điểm a khoản 1 điều 24; Điểm a khoản 05 điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Dương Thị H về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con chung khi ly hôn đối với anh Trần Văn T.

[1] Về hôn nhân: Chị Dương Thị H được ly hôn với anh Trần Văn T.

[2] Về con chung: Giao cháu Trần Anh T, sinh ngày 19/9/2009 cho chị Dương Thị H trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi cháu T đến tuổi trưởng thành (tròn 18 tuổi). Chấp nhận nguyện vọng của chị Dương Thị H không yêu cầu anh Trần Văn T phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Anh Trần Văn T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai có quyền ngăn cấm, cản trở.

[3] Về án phí: Buộc chị Dương Thị H phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000793 ngày 06/9/2018 tại Chi cục thi hành án huyện Cẩm X. Tiền án phí ly hôn sơ thẩm chị H đã nộp đủ.

[4] Quyền khánh cáo: Nguyên đơn Chị Dương Thị H có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn Anh Trần Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.<


49
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 20/09/2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung 

Số hiệu:12/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 20/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về