Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 19/09/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 12/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2018 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2018/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2018 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2018/QĐXX-ST, ngày 24 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Chu Văn A, sinh năm 1976; cư trú tại: Thôn K, xã V C, tỉnh Lạng Sơn.

2. Bị đơn: Chị Lường Thị A, sinh năm 1976; cư trú tại: Thôn K, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Chu Văn A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lường Thị B kết hôn năm 1993 trên cơ sở tự nguyên, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi cho theo phong tục tập quán. Anh chị chung sống đến năm 2004 mới đi đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng 14 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên vợ chồng sống ly thân từ tháng 03 năm 2009 đến nay. Anh A xác định không còn tình cảm với chị B nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung, cháu lớn tên là Chu Thị X, sinh ngày 22 tháng 8 năm 1996; cháu bé tên là Chu Thị Mỹ D, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2003. Cháu Chu Thị X đã trưởng thành nên không yêu cầu Toà án giải quyết; anh A yêu cầu được nuôi cháu Chu Thị Mỹ D và chị B không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng chị B cố tình vắng mặt không có lý do nên Toà án không lấy được lời khai của chị B và các yêu cầu về quan hệ hôn nhân, về con chung và tài sản chung. Toà án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng chị B không có mặt nên không tiến hành hoà giải được. 

Toà án đã xác minh tại Uỷ ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn và lấy lời khai của ông Lường Tiến H là bố đẻ của chị B và anh Lường Văn G là anh trai ruột của chị B, để xác định nơi cư trú của chị B, xác định về mâu thuẫn vợ chồng của anh A, chị B và việc tống đạt hợp lệ các văn bản Tố tụng cho chị B.

Kiểm sát viên phát biểu tại phiên tòa: Không có kiến nghị gì về thủ tục tố tụng. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của pháp luật, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Chu Văn A, xử cho anh Chu Văn A ly hôn với chị Lường Thị B và anh Chu Văn A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Chu Thị Mỹ D đến khi đủ 18 tuổi.

Anh Chu Văn A giao nộp chứng cứ cho Toà án gồm: Giấy chứng nhận kết hôn; giấy tờ tuỳ thân; giấy khai sinh của cháu Chu Thị X và Chu Thị Mỹ D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng chị Lường Thị B vắng mặt tại phiên toà không có lý do. Do vậy căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Chu Văn A và chị Lường Thị B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn nên cuộc hôn nhân này là hợp pháp. Tuy nhiên cuộc sống chung của vợ chồng đã xẩy ra mâu thuẫn trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc này đã đươc anh A xác nhận và thể hiện rõ trong các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ. Mặt khác anh chị đã sống ly thân từ tháng 03 năm 2009, chị B không còn quan tâm chăm sóc anh A và gia đình, vì thế anh A yêu cầu ly hôn với chị B là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

[3] Về con chung: Anh Chu Văn A và chị Lường Thị B có 02 con chung, cháu Chu Thị X đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Cháu Chu Thị Mỹ D ở cùng anh A từ khi hai vợ chồng sống ly thân, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, chị B thường xuyên đi làm ăn không dành thời gian chăm sóc con chung nên việc giao cháu Chu Thị Mỹ D cho anh A trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là có căn cứ. Chị B không phải đóng cấp dưỡng nuôi con do anh A không yêu cầu.

[4] Về tài sản chung: Không có.

[5] Về án phí: Anh Chu Văn A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 4 Điều 147; Điều 266; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều51; khoản 1 Điều 56; các Điều 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a, d Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Chu Văn A. Xử cho anh Chu Văn A ly hôn với chị Lường Thị B.

2- Về con chung: Anh Chu Văn A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Chu Thị Mỹ D, sinh ngày 13 tháng 8 năm 2003 từ khi án có hiệu lực pháp luật đến khi cháu đủ 18 tuổi. Chị Lường Thị B không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3- Về tài sản chung: Không có.

4- Về án phí: Anh Chu Văn A phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm để nộp ngân sách nhà nước. Xác nhận anh Chu Văn A đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2012/04818 ngày 03/5/2018.

Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 19/09/2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:12/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Chi Lăng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về