Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 07/02/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA.

BẢN ÁN 12/2018/HNGĐ-ST NGÀY 07/02/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 07 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 311/2017/ TLST- HNGĐ ngày 31 tháng  10  năm 2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2018 ngày 29/01/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Mai Thị L - Sinh năm 1991

Địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

- Bị đơn: Anh Tào Ngọc Th - Sinh năm 1990.

Địa chỉ: Thôn B, xã L, thành phố H,tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Mai Thị L trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Tào Ngọc Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 16/6/2015 tại UBND xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa nhưng không tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương. Do gia đình anh Th  không đồng ý cho anh Th lấy Chị nên sau khi kết hôn vợ chồng không chung sống cùng nhau. Chị L vẫn ở nhà mẹ đẻ của mình và anh Th ở nhà bố mẹ đẻ anh Th. Được một thời gian thì Chị phát hiện ra anh Th hay tụ tập bạn bè chơi bời lêu lổng, không chịu tu chí làm ăn nên vợ chồng hay cãi vã nhau. Từ đó vợ chồng không liên lạc và cũng không gặp gỡ nhau. Nay chị L xác định tình cảm giữa chị và anh Th không còn, nên đề nghị Toà án nhân dân thành phố H giải quyết cho chị được ly hôn anh Tào Ngọc Th.

- Về con chung: Chị và anh Tào Ngọc Th không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn là anh Tào Ngọc Th và tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Triệu tập anh Th  đến Toà án để tự khai cũng như tham gia phiên hoà giải. Mặc dù nhận được thông báo hợp lệ nhưng anh Th không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị L.

Tại biên bản giao nhận Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh Th có ý kiến: Về vấn đề ly hôn của chị Mai Thị L, tôi đồng ý ly hôn, kính mong Tòa án xem xét vụ việc. Toà án đã lập biên bản về việc đương sự vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự

Theo yêu cầu của chị Mai Thị L, Toà án tiến hành thu thập chứng cứ. Tại biên bản xác minh do địa phương cung cấp thể hiện: Chị Mai Thị L và anh Tào Ngọc Th có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H nhưng không tổ chức cưới hỏi và cũng không về chung sống cùng nhau. Hiện nay anh Th đang có mặt tại địa phương và sinh sống cùng bố mẹ đẻ còn chị L vẫn ở nhà mẹ đẻ ở huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Anh Th và chị L không có con chung. Nay chị L có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Tại phiên tòa, chị L vẫn giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện. Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ thời điểm thụ lý vụ án đến nay đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật. Đối với bị đơn: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ nhiều lần đối với bị đơn nhưng anh Th không chấp hành nên Tòa án xét xử vắng mặt là đúng quy định.

Quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Mai Thị L. Về con chung và về tài sản không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Tào Ngọc Th vắng mặt, anh Th đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Chị L đề nghị Toà án tiến hành xét xử vụ án, nên Toà án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vắng mặt anh Th là phù hợp quy định của pháp luật.

[2] Về hôn nhân: Chị Mai Thị L và anh Tào Ngọc Th kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Do vợ chồng không chung sống cùng nhau nên không có trách nhiệm cũng như không quan tâm đến nhau.

Theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chung xây cuộc sống, hạnh phúc gia đình, nhưng ở đây chị L và anh Th không có cuộc sống như những gia đình khác. Theo chị L trình bày, nguyên nhân do anh Th sống không có trách nhiệm, không muốn cùng chị xây dựng hạnh phúc gia đình. Chị L đã thực sự không còn tình cảm với anh Th. Anh Th cũng đồng ý ly hôn chị L.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã phân tích, động viên chị L nên suy nghĩ kỹ trước khi quyết định việc ly hôn nhưng chị L vẫn cương quyết xin ly hôn anh Th. Xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị L và anh Th không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó nếu buộc anh, chị về đoàn tụ thì cuộc sống vợ chồng cũng không thể cải thiện được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Mai Thị L về việc xin ly hôn anh Tào Ngọc Th.

[3] Về con chung: Chị Mai Thị L và anh Tào Ngọc Th không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án;

- Về hôn nhân: Chị Mai Thị L được ly hôn anh Tào Ngọc Th.

- Về con chung: Chị Mai Thị L và anh Tào Ngọc Th không có con chung.

- Về tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Chị Mai Thị L phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai số 0004535 ngày 30/10/2017 của  Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H (Chị L đã nộp đủ án phí).

Về quyền kháng cáo: Chị Mai Thị L có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Tào Ngọc Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.


57
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 12/2018/HNGĐ-ST ngày 07/02/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:12/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thanh Hóa - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:07/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về