Bản án 121/2019/HSST ngày 07/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 121/2019/HSST NGÀY 07/05/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 07 tháng 05 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 142/2019/HSST ngày 19 tháng 04 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 137/HSST-QĐ ngày 23 tháng 04 năm 2019 đối với bị cáo:

PHẠM MINH P, sinh năm 1982 tại Hà Nội; Nơi cư trú: Số 2 phố L, phường P, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Con ông: Phạm Minh G và bà Trương Thị Thu H; Tiền án: Ngày 04/11/2003, Tòa án nhân dân quận Đống Đa xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho hai tội là 38 tháng tù (chưa xóa án tích); Tiền sự: Không; Về nhân thân: Ngày 24/10/2006, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Hà Nội xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích); Ngày 30/07/2008, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (đã xóa án tích); Ngày 29/11/2011, Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Hà Nội xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã xóa án tích); Bị bắt quả tang ngày 02/01/2019, tạm giữ ngày 02/01/2019, tạm giam ngày 05/01/2019. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 2 - Công an Thành phố Hà Nội - Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/01/2019, tại khu vực đường vào khu Công nghiệp Vĩnh Tuy thuộc tổ 27, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, Hà Nội, tổ công tác Công an phường Vĩnh Hưng phát hiện Phạm Minh P có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ của P 01 gói nilon màu hồng, kích thước 1,5 x 1,5cm, bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ P khai nhận là ma túy loại Heroin, P mang đi để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Tại bản kết luận giám định số 191/KLGĐ-PC09 ngày 0/01/2009 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hà Nội kết luận: Chất bột màu trắng bên trong gói nilon màu hồng là ma túy loại Heroin, khối lượng 0,140gam.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Minh P khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 02/01/2019, P đi bộ đến khu công nghiệp Vĩnh Tuy, phường Vĩnh Hưng, quận Hoàng Mai, Hà Nội, mục đích mua ma túy về sử dụng. Tại đây, P gặp và mua của 01 người phụ nữ không quen biết 01 gói ma túy Heroin với giá 200.000 đồng. Sau khi mua xong, P cất vào túi quần đang mặc và đi tìm nơi sử dụng. Khi đi đến đoạn đường vào khu công nghiệp Vĩnh Tuy thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt giữ cùng tang vật. P không có mục đích bán lại số ma túy này cho người khác.

Tại bản cáo trạng số 118/CT-VKS-HM ngày 01 tháng 04 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai truy tố Phạm Minh P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích vai trò, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo kết luận: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Phạm Minh P từ 18 đến 22 tháng tù. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,140 gam Heroin; Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di dộng màu đen có chữ Wiko ở ốp lưng thu giữ của bị cáo; Trả lại bị cáo số tiền 150.000 đồng nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tại phiên toà: Bị cáo Phạm Minh P giữ nguyên lời khai tại cơ quan điều tra, thừa nhận nội dung, tội danh cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng: Về các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai thu thập; về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hoàng Mai, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ và hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập, thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh: Ngày 02/01/2019, Phạm Minh P đã có hành vi cất giữ trái phép 0,140 gam Heroin nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hoặc sản xuất trái phép chất ma túy. Đối chiếu Pháp luật, Phạm Minh P đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ Pháp lý.

Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Phạm Minh P, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

[3]. Về tính chất nguy hiểm củ hành vi phạm tội: Ma túy là mối nguy hiểm của xã hội, bởi nó không chỉ là nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội, làm thiệt hại kinh tế, gây suy thoái đạo đức và lối sống, mà còn là nguyên nhân làm phát sinh nhiều tội phạm nguy hiểm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do tính chất nghiêm trọng của vụ án, để đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm về ma túy nói riêng, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự.

[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo đã có 04 tiền án về tội “trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy, trong đó tiền án năm 2003 của bị cáo chưa được xóa án tích, thể hiện bị cáo là người có nhân thân xấu, đã được cơ quan Pháp luật giáo dục, cải tạo nhưng không chịu sửa chữa, có thái độ coi thường Pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm” theo quy định tại Điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Để cải tạo, giáo dục bị cáo và làm bài học răn đe người khác, cần áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

[6]. Về vật chứng: 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,140 gam Heroin thu giữ của Phạm Minh P là chất Nhà nước cấm tàng trữ, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Ngoài ra, khi bắt giữ bị cáo, cơ quan công an còn thu giữ của bị cáo 01 điện thoại di động Wiko màu đen đã qua sử dụng và số tiền 150.000 đồng.

Đối với chiếc điện thoại, ngày 02/01/2019, bị cáo đã sử dụng điện thoại để liên lạc mua ma túy. Xét thấy, đây là tài sản được sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Số tiền 150.000 đồng là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điểm h Khoản 1 Diều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

[1]. Xử phạt: Phạm Minh P 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 02/01/2019.

[2]. Về vật chứng (Hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự quận Hoàng Mai theo biên bản giao nhận vật chứng số 162/2019 ngày 12/04/2019 và giấy nộp tiển ngày 30/01/2019):

- Tịch thu tiêu hủy 01 bao niêm phong bên trong chứa 0,140 gam Heroin thu giữ của Phạm Minh P;

- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Wiko màu đen đã qua sử dụng bị nứt màn hình có số Imei 1: 35257209792162, Imei 2: 352572098001862;

- Trả lại bị cáo số tiền 150.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[3]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 121/2019/HSST ngày 07/05/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:121/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Hoàng Mai - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:07/05/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về