Bản án 121/2018/HSST ngày 23/08/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 121/2018/HSST NGÀY 23/08/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 23 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2018/HSST ngày 08/6/2018, quyết định đưa vụ án ra xét xử số 201/QĐXX ngày 10/8/2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1993 tại tỉnh N; Nơi cư trú: Xóm T, xã S, huyện A, tỉnh N; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh – Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Họ tên cha: B và mẹ: L. Anh, chị, em: Có 03 người, bị can là người lớn nhất trong gia đình; Vợ: L. Con: Có 01 người, sinh năm 2015; Tiền sự: Không;

Tiền án:

- Ngày 26/11/2012, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 386/2012/HSST, thời hạn tù tính từ ngày 31/8/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2013, chấp hành xong án phí ngày 22/4/2013 (BL.92A);

- Ngày 29/9/2015, Tòa án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 08 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, thời hạn tù tính từ ngày 19/7/2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/3/2016 (BL.96)

Bị cáo bị tạm giam từ ngày: 31/12/2017.

Người bị hại: Ông P (vắng mặt)

Địa chỉ: Nhà số 8, đường X, phường H, quận B.T, Thành phố Hồ Chí Minh

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

A quen biết với H (không rõ lai lịch) khi cùng thi hành án tại trại giam Đồng Sơn, tỉnh Quảng Bình, sau khi ra trại giam A và H vẫn liên lạc với nhau. Vào khoảng 20 giờ 20 ngày 30/12/2017, H hẹn gặp A tại quán café (không rõ địa chỉ) gần bến xe Miền Đông, phường 26, quận Bình Thạnh, tại đây H rủ A đi tìm xe gắn máy để sơ hở trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, A đồng ý. H biết đường đi nên có nhiệm vụ chở A đi lòng vòng kiếm tài sản nếu phát hiện tài sản thì A vào trộm cắp tài sản, trên đường đi H có gọi điện thoại rủ 02 người bạn của H (không rõ lai lịch) cùng tham gia trộm cắp. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi đến trạm xăng số aaa, đường X, phường H, quận B.T để đổ xăng, H phát hiện xe Honda Air Blade biển số 59S2-178.70 của anh P dựng gần đó không có người trông coi nên nói A đến trộm xe, H đưa cho A 01 bộ đoản dùng phá ổ khóa xe, A đi đến dùng đoản phá ổ khóa xe, khi phá xong ổ khóa thì đèn xe bật sáng nên anh P phát hiện xe bị lấy trộm nên liền tri hô, chạy ra cùng người dân bắt giữ A cùng vật chứng là dụng cụ phá ổ từ. Riêng tên H và 02 thanh niên đi cùng bỏ chạy thoát.

Tại Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Thạnh, A đã khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình như đã nêu trên.

Ngày 18/01/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh có Thông báo số 97 kết luận: Một xe gắn máy hai bánh hiệu Honda Air Blade, biển số 59S2-178.70, có giá trị là 22 triệu đồng (BL.20).

Tại bản cáo trạng số 94/Ctr - VKSBT ngày 06/6/2018 của Viện Kiểm Sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo A về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo A phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng điểm g, khoản 2, Điều 173, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 2 năm đến 2 năm 6 tháng tù.

- 01 ổ khóa công tắc điện đã hư hỏng và 01 cây khóa dùng để mở nắp từ ổ khóa xe không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

- 01 USB chứa dữ liệu ghi nhận hình ảnh tại nơi xảy ra vụ việc là chứng cứ vụ án nên đề nghị tịch thu lưu hồ sơ.

- Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

* Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và không có ý kiến gì tranh luận với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức việc làm của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, bị cáo A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với camera ghi hình hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu được và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đúng như hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước tòa, cho thấy: Do cần tiền tiêu xài, vào khoảng 20 giờ 20 ngày 30/12/2017 sau khi được đối tượng H (chưa rõ lai lịch) rủ đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp thì bị cáo đồng ý. Đối tượng H điều khiển xe máy chở A và trên đường đi H rủ thêm hai người bạn của H chưa rõ lai lịch cùng tham gia. Đến 21 giờ, cùng ngày, cả nhóm vào trạm xăng số aaa, đường X, phường H, quận B.T để đổ xăng, H phát hiện xe Honda Air Blade biển số 59S2-178.70 của anh P dựng gần đó không có người trông coi nên H nói A đến trộm xe, H đưa cho A một bộ đoản phá ổ khoá xe, A đi đến lén lút dùng đoản phá khoá xe xong thì đèn xe bật sáng nên anh P phát hiện tri hô và chạy ra bắt giữ bị cáo A, còn H và 2 thanh niên chạy thoát.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử, xét thấy: Bị cáo A là người đã trưởng thành, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo cùng các đối tượng chưa rõ lai lịch đã có hành vi chuẩn bị công cụ là đoản phá khoá và lợi dụng bị hại sơ hở trong việc quản lý tài sản, bị cáo đã có hành vi lén lút dùng đoản bẻ khoá xe Honda Air Blade biển số 59S2-178.70 của anh P nhằm chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài thì bị bắt quả tang, tổng trị giá tài sản chiếm đoạt theo kết luật định giá tài sản là 22 triệu đồng. Hành vi này của bị cáo A đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bản thân bị cáo năm 2012, bị Toà án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, bản án này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xoá án tích bị cáo lại tiếp tục phạm tội và ngày 29/9/2015 Toà án nhân dân huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt bị cáo 8 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, bản án này bị cáo phạm tội là tái phạm và chưa được xoá án tích nên lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm g, khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Về tính chất, mức độ, động cơ, vai trò hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính xem thường pháp luật, chỉ vì cần tiền tiêu xài lười lao động bị cáo đã cùng các đối tượng chưa rõ lai lịch cố ý phạm tội, gây nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương. Trong vụ án này, phạm tội có đồng phạm, đối tượng H là người rủ rê và bị cáo A là người trực tiếp phạm tội, nhưng bị cáo và các đối tượng này không có tổ chức chặt chẽ thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Do vậy, cần phải áp dụng một mức phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi, vai trò của bị cáo A trong vụ án, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi trả lại cho các bị hại, phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.

[5] Đối với đối tượng tên H và hai thanh niên bạn của H (chưa rõ lai lịch), tiếp tục kiến nghị cơ quan điều tra quận Bình Thạnh điều tra xác minh làm rõ và xử lý sau.

[6] Về xử lý vật chứng:

- 01 ổ khóa công tắc điện đã hư hỏng và 01 cây khóa dùng để mở nắp từ ổ khóa xe không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu huỷ.

- 01 USB chứa dữ liệu ghi nhận hình ảnh tại nơi xảy ra vụ việc là chứng cứ vụ án nên đề nghị tịch thu lưu hồ sơ.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và có không yêu cầu gì, nên Toà án không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm g, khoản 2 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo A 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/12/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 45 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 ổ khóa công tắc điện đã hư hỏng và 01 cây khóa dùng để mở nắp từ ổ khóa xe.

- Tịch thu lưu hồ sơ 01 USB chứa dữ liệu ghi nhận hình ảnh tại nơi xảy ra vụ việc.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/4/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và Lê phí; Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí sơ thẩm

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


42
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 121/2018/HSST ngày 23/08/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:121/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/08/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về