Bản án 118/2019/HS-ST ngày 02/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 118/2019/HS-ST NGÀY 02/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 02 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2019/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2019, đối với bị cáo:

Đặng Văn T, sinh năm 1982 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Sửa xe máy; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đặng Văn H, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1952; có 03 chị em ruột, lớn sinh năm 1979, nhỏ sinh năm 1987; tiền án: Ngày 01/3/2011 bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 18 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản theo bản án số 57/2011/HSST ngày 01/3/2011; Ngày 29/5/2013, Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản theo bản án số 13/2013/HSST ngày 29/5/2013; tiền sự: Ngày 30/11/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 14 tháng, đến ngày 30/8/2018 chấp hành xong; bị bắt tạm giam từ ngày 12/12/2018, có mặt.

- Bị hại: Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; địa chỉ: xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.

- Người chứng kiến:

1. Phan Long T, sinh năm 1991; vắng mặt.

2. Châu Hồng V, sinh năm 1983; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Đặng Văn T có 02 tiền án về Tội trộm cắp tài sản, 01 tiền sự chưa được xóa án tích, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/8/2018.

Khong 14 giờ ngày 12/12/2018, T mang theo trong túi quần trước bên phải 01 cây đoản bẻ khóa bằng kim loại hình chữ T, 02 đầu đoản bằng kim loại, 01 đoản mở khóa từ dài khoảng 04cm, 01 chìa khóa xe mô tô hiệu Honda, 01 chìa khóa xe mô tô hiệu Yamaha (có một đầu bị mài cụt) đi bộ trên nhiều tuyến đường thuộc địa bàn phường An Bình, thị xã Dĩ An, để tìm tài sản chiếm đoạt. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T đi đến trường mầm non Hoa Hồng 6 thuộc khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, thị xã Dĩ An, nhìn thấy có nhiều phụ huynh vào trong trường đón con, phía bên hông chốt bảo vệ trong sân trường có dựng 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ biển số 36B5-772.25 của chị Nguyễn Thị H. Quan sát thấy không có người trông coi, T đi vào trong tiếp cận phía bên trái xe mô tô, thấy xe không khóa cổ, ổ khóa không đóng nắp khóa từ, T dùng tay phải cầm đoản hình chữ T đút vào ổ khóa điện nguồn xe, vặn mạnh từ trái sang phải làm ổ khóa xe bị biến dạng nhưng chưa mở được khóa xe. Lúc này, bảo vệ trường là anh Phan Long T và anh Châu Hồng V phát hiện bắt giữ T và Công an phường An Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng.

Vật chứng thu giữ:

- Xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ biển số 36B5-772.25, số khung 5810GY196417, số máy JF66E0196456;

- 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T;

- 02 đầu đoãn bằng kim loại;

- 01 chìa khóa xe, môtô hiệu Yamaha;

- 01 đoạn mở khóa từ dài khoảng 04 cm (giao sau).

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 356/BB/ĐG ngày 20/12/2018 của Hội đồng định giá thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, kết luận: Xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ biển số 36B5-772.25, số khung 5810GY196417, số máy JF66E0196456, trị giá 23.000.000 đồng.

Tại cáo trạng số: 82/CT-VKS ngày 21 tháng 3 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đặng Văn T về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 15, điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 15, điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Đặng Văn Tiến mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong bản cáo trạng đã nêu và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung: Vào khoảng 16 giờ ngày 12/12/2018 tại trường mầm non Hoa Hồng 6 thuộc khu phố Bình Đường 2, phường An Bình, thị xã Dĩ An, bị cáo Đặng Văn T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản là xe mô tô hiệu Honda Vision màu đỏ biển số 36B5-772.25, số khung 5810GY196417, số máy JF66E0196456, có trị giá là 23.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Hà để bên hông chốt bảo vệ trong sân trường. Khi Tiến dùng tay phải cầm đoản hình chữ T đút vào ổ khóa điện nguồn xe, vặn mạnh từ trái sang phải làm ổ khóa xe bị biến dạng nhưng chưa mở được khóa xe, bị anh Phan Long Trường và anh Châu Hồng Vũ phát hiện bắt giữ cùng vật chứng.

Tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, quy định:

“ 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

….

g) Tái phạm nguy hiểm.…”.

Điều 15 Bộ luật Hình sự quy định: 

“Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

Người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt.”

Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành Tội trộm cắp tài sản và phạm tội trong trường hợp chưa đạt. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 23.000.000 đồng, bản thân bị cáo đã có 02 tiền án về Tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, tiếp tục phạm tội mới thuộc tình tiết định khung hình phạt, tái phạm nguy hiểm, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 15 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng số 82/CT-VKS, ngày 21 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố đối với bị cáo Đặng Văn T là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị tòa án xét xử nhiều lần và có một tiền sự đưa đi cai nghiện chưa được xóa.

[7] Về vật chứng:

- 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T;

- 02 đầu đoãn bằng kim loại;

- 01 chìa khóa xe, môtô hiệu Yamaha;

- 01 đoạn mở khóa từ dài khoảng 04 cm (giao sau). Tịch thu tiêu hủy vì không còn giá trị sử dụng.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã thu hồi trả lại cho bị hại chị Nguyễn Thị H và không có yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử xem xét.

[9] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm Tội trộm cắp tài sản (chưa đạt).

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 15 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/12/2018.

2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy;

- 01 cây đoản bằng kim loại hình chữ T;

- 02 đầu đoãn bằng kim loại;

- 01 chìa khóa xe, môtô hiệu Yamaha;

- 01 đoạn mở khóa từ dài khoảng 04 cm (giao sau).

(theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 21/3/2019, bút lục 89)

3. Án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đặng Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


221
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 118/2019/HS-ST ngày 02/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:118/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 02/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về