Bản án 118/2018/HNGĐ-ST ngày 19/11/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 118/2018/HNGĐ-ST NGÀY 19/11/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 19 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 537/2018/TLST- HNGĐ, ngày 07 tháng 9 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 306/2018/QĐXXST-HNGĐ, ngày 11 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên toà số 219/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1993;

Địa chỉ: Ấp B, xã Mỹ T1, thành phố Cao L, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: Anh Nguyễn Thành H, sinh năm 1987.

Địa chỉ: Ấp An Đ, xã An B, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp.

 (Chị D, anh H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 24/8/2018, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Mỹ D trình bày:

- Về hôn nhân: Chị D và anh H kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã An B, huyện Cao L, tỉnh Đồng Tháp.

Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Thời gian sau, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường cãi vả nhau và bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng đã không sống chung hơn hai tháng nay. Nhận thấy không thể hàn gắn nên chị D yêu cầu được ly hôn với anh H.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Minh T2, sinh ngày 17/7/2015, hiện do chị D nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh H cấp dưỡng.

- Về chia tài sản khi ly hôn và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản và nợ chung nên không yêu cầu giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ của vụ án:

- Giấy chứng nhận kết hôn số 019/2015, ngày 16/4/2015 của Ủy ban nhân dân xã An B, huyện Cao L, Đồng Tháp (Bản chính);

- Giấy khai sinh của Nguyễn Minh T2 (bản sao);

- Đơn xin xác nhận ngày 19/9/2018 của Công an xã An B, huyện Cao L(Bản chính).

Về tố tụng:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của chị D và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật đang tranh chấp là về ly hôn, địa chỉ của bị đơn tại huyện Cao L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh quy định tại khoản 1, Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Chị Nguyễn Thị Mỹ D là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. anh Nguyễn Thành H là bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

 [3] Về hôn nhân: Theo lời trình bày của chị D thì chị và anh H đã tổ chức đám cưới năm 2015. Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 019/2015, ngày 16/4/2015 của Ủy ban nhân dân xã An B, huyện Cao L thì chị D và anh H có đăng ký kết hôn vào ngày 16/4/2015. Như vậy có căn cứ xác định hôn nhân của chị D và anh H là hợp pháp. Sau thời gian chung sống thì nay chị D yêu cầu ly hôn vì cho rằng hôn nhân không thể tiếp tục, sống chung không còn hạnh phúc, vợ chồng cũng đã không sống chung. Về phía anh H là bị đơn đã được tống đạt hợp lệ các thông báo của tòa án nhưng không có ý kiến, không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải và phiên tòa. Như vậy, có căn cứ nhận định anh H không có thiện chí hàn gắn tình cảm, mâu thuẫn giữa vợ chồng như chị D trình bày là có thật và đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.

 [4] Về nuôi con: Chị D và anh H có 01 con chung tên Nguyễn Minh T2, sinh ngày 17/7/2015, hiện do chị D nuôi dưỡng. Khi ly hôn thì chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T2. Xét thấy, hiện cháu T2 đang chung sống với chị D ổn định. Phía anh H không có ý kiến về việc nuôi con. Do đó, việc chị D yêu cầu được tiếp tục nuôi con sau khi ly hôn là phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

 [5] Anh H không trực tiếp nuôi con chung nên có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.

 [6] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D được tiếp tục nuôi con sau khi ly hôn nên có quyền yêu cầu anh H cấp dưỡng. Tuy nhiên, chị D không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

 [7] Về chia tài sản khi ly hôn và nợ chung: Chị D trình bày không có tài sản và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

 [8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 28, 35, 39, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.

Chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Mỹ D.

1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Mỹ D được ly hôn với anh Nguyễn Thành H.

2. Về nuôi con: Chị Nguyễn Thị Mỹ D được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Minh T2, sinh ngày 17/7/2015. Anh Nguyễn Thành H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị D không yêu cầu.

Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản khi ly hôn và nợ chung: Không có, tài sản và nợ chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) mà chị D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000794, ngày 06/9/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


54
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 118/2018/HNGĐ-ST ngày 19/11/2018 về ly hôn

Số hiệu:118/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Cao Lãnh - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 19/11/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về