Bản án 117/2017/HSST ngày 25/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 117/2017/HSST NGÀY 25/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 25 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 95/2017/HSST ngày 16/8/2017 đối với bị cáo:

Phan Đình T (có mặt)

- Sinh năm 1988, tại Đồng Nai;

- Nơi ĐKHKTT: ấp 2, xã H, huyện X, tỉnh Đồng Nai;

- Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12;

- Cha là ông Phan Đình Đ, mẹ là bà Lê Thị G;

- Vợ, con: chưa có

- Tiền án, tiền sự: không.

- Bị cáo bị tạm giam từ ngày 26/6/2017 cho đến nay.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Hoàng Văn B, sinh năm: 1990 (vắng mặt) Trú tại: ấp 2, xã H, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

2. Anh Hoàng Văn N, sinh năm: 1994 (vắng mặt) Trú tại: ấp 2, xã H, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

NHẬN THẤY

Bị cáo Phan Đình T bị Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào lúc 7 giờ 30 phút ngày 04/06/2017, Phan Đình T gọi điện thoại cho anh Hoàng Văn B, sinh năm 1990, trú tại ấp 2, xã Xuân Hòa, huyện Xuân Lộc để nhờ B chở T đi uống methadone tại thị xã Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, anh B đồng ý. Sau đó, anh B điều khiển xe honda Wave màu trắng mang biển kiểm soát 60B5-63916, đến nhà và chở T đi thị xã Long Khánh, khi cả hai đi ngang qua Trạm kiểm dịch động vật thuộc ấp 7, xã T, huyện X, tỉnh Đồng Nai thì T nhìn thấy 2 người bạn tên Hưng và Tú (không rõ lai lịch) đang đứng bên đường quốc lộ 1A, T biết Hưng và Tú đều là đối tượng nghiện herôin. Khi thấy T đi ngang qua thì Hưng kêu T lại. T dùng xe cách Hưng và Tú khoảng 05m rồi đi đến chỗ Hưng và Tú đang đứng. Lúc này, cả ba cùng rủ nhau góp tiền để đi mua ma túy vể sử dụng, T góp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng), Tú góp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và Hưng góp số tiền 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng), tổng cộng là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) rồi đưa cho T để T đi mua ma túy. Tú và Hưng đứng chờ còn T tiếp tục điều khiển xe mô tô chở B chạy về hướng thị trấn Gia Ray, sau đó vào đường hẻm gần trường phổ thông trung học Xuân Lộc. Tại đây, T gọi điện thoại cho một người thanh niên tên Tuấn (không rõ lai lịch) để hỏi mua herôin và Tuấn đồng ý, sau khi hẹn địa điểm, T để B đứng chờ tại trạm xe buýt rối điều khiển xe mô tô 60B5-639.16 đến phía sau trường trung học cơ sở Phan Bội Châu, thuộc thị trấn Gia Ray gặp Tuấn để mua ma túy. Khi gặp Tuấn, Tuấn đưa cho T 01 gói giấy bên trong có chứa ma túy, T đưa cho Tuấn số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T quay lại chở B đến một hẻm khác có căn nhà hoang thuộc khu 4, thị trấn Gia Ray để phân số ma túy vừa mua được ra thành nhiều tép nhỏ. Khoảng 10 giờ cùng ngày, khi T đang phân ma túy ra thành nhiều tép nhỏ tại ngôi nhà hoang thuộc khu 4, thị trấn Gia Ray, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai thì bị đội Cảnh sát điều tra về tội phạm Kinh tế - Ma túy phối hợp cùng với Công an thị trấn Gia Ray phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tang vật, đã tiến hành niêm phong theo quy định.

Tại bản kết luận giám định số 206/PC54-GĐMT ngày 09/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Đồng Nai kết luận: Chất bột màu trắng trong mẫu (M) được niêm phong gửi đến giám định, có trọng lượng là 0,6323 gam, có herôin. Mẫu vật còn lại sau giám định có trọng lượng 0,5889 gam. Herôin là chất ma túy nằm trong Danh mục I, số thứ tự 20, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Tại bản kết luận giám định số 358/PC54-GĐMT ngày 06/9/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Đồng Nai kết luận: Mẫu M có hàm lượng Heroin: 85,50%. Trọng lượng Heroin trong 0,6323 gam mẫu là: 0,5400 gam.

Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKS-HS ngày 15/8/2017 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc đã truy tố bị cáo Phan Đình T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY

Bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,5400 gam Hêroin. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 của Bộ luật hình sự như Viện Kiểm sát truy tố là đúng pháp luật.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo là hết sức nguy hiểm cho xã hội. Ma tuý là hiểm họa của toàn xã hội, ma tuý làm gia tăng tội phạm, làm suy thoái nòi giống, sức khoẻ và phẩm giá con người, làm ảnh hưởng nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội, là tác nhân tăng nhanh các tệ nạn xã hội và tội phạm. Do vậy, cần áp dụng một mức án nghiêm khắc đối với bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động màu đỏ-đen hiệu A26 Masstel.

- Tịch thu, tiêu hủy: Mẫu vật sau giám định được niêm phong trong phong bì số 358/PC54-GĐMT ngày 12/9/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Phan Đình T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội khóa 14.

Xử phạt bị cáo Phan Đình T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2017.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự và Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động màu đỏ-đen hiệu A26 Masstel.Tuyên tịch, thu tiêu hủy mẫu vật sau giám định được niêm phong trong phong bì số 358/PC54-GĐMT ngày 12/9/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

Bị cáo Phan Đình T phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


79
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về