Bản án 117/2017/DS-PT ngày 18/08/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 117/2017/DS-PT NGÀY 18/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Ngày 18 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2017/TLPT-DS ngày 08 tháng 6 năm 2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2017/DSST ngày 12/04/2017 của Tòa án nhân dân huyện CN bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 117/2017/QĐ-PT ngày 15 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trịnh Tấn P, sinh năm 1960; Địa chỉ cư trú: Ấp TTA, xã HM, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Huỳnh Phương Đ, sinh năm 1967 Bà Văn Thị Thu H, sinh năm 1969

Cùng cư trú: Ấp TTA, xã HM, huyện CN, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Bà Văn Thị Thu H – Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện 10/10/2016 và các lời trình bày tại Tòa án ông Trịnh Tấn P (nguyên đơn) trình bày như sau:

Vào ngày 12/11/2014 dl ông Đ có đến nhà ông P hỏi vay số tiền vốn là 35.000.000 đồng (Ba mươi lăm triệu đồng), lãi suất hai bên thỏa thuận là 1%/tháng. Tiếp tục đến ngày 28/11/2014 dl ông Đ vay thêm số tiền vốn là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), tổng 02 lần là 45.000.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu đồng). Từ khi vay đến khi ông P khởi kiện, ông Đ không đóng lãi và cũng không trả vốn cho ông. Ông P yêu cầu ông Đ và bà H trả cho ông số tiền vốn là 45.000.000 đồng  và tiền lãi là 10.000.000.

Bà Văn Thị Thu H (Bị đơn) trình bày:

Tại biên bản làm việc ngày 25/11/2016 bà cho rằng việc ông P cho ông Đ vay là bà hoàn toàn không biết, đồng thời ông Đ đã bỏ địa phương đi hơn 02 năm nay và bà cũng không biết ở đâu, ông Đ cũng không liên lạc gì về gia đình nên bà không đồng ý trả cho ông P số tiền nêu trên.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 24/2017/DSST ngày 12 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện CN quyết định: Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 147, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật dân sựNghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 27/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Tấn P đối với  ông Huỳnh Phương Đ, bà Văn Thị Thu H.

Buộc ông Huỳnh Phương Đ, bà Văn Thị Thu H phải có nghĩa vụ liên đới trả cho oâng Trịnh Tấn P số tiền là 54.607.500 đồng (Năm mươi bốn triệu sáu trăm lẻ bảy ngàn năm trăm đồng).

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, lãi suất chậm trả và quyền kháng cáo của đương sự.

Ngày 25 tháng 4 năm 2017 bà Văn Thị Thu H kháng cáo toàn bộ nội dung án sơ thẩm vì lý do ông Đ lén lút bà qua lại tiền bạc với ông P để cờ bạc. Vợ chồng bà hơn hai năm nay không chung sống, cũng không liên lạc, ông Đ đã trốn nợ bỏ mẹ con bà đi.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà H, sửa bán án sơ thẩm số 24/2017/DS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện CN.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại đơn kháng cáo và tại phiên tòa phúc thẩm, bà Văn Thị Thu H cho rằng bà không biết việc ông Đ vay tiền của ông P và ông Đ cũng đã bỏ bà đi khoảng hai năm nay nên bà không đồng ý thanh toán số tiền vốn và lãi là 54.607.500 đồng cho ông P như án sơ thẩm đã tuyên, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét không buộc bà có trách nhiệm trả nợ. Qua xem xét toàn bộ hồ sơ và lời khai của đương sự, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[1] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bà H thừa nhận tờ Biên nhận ngày 12/11/2014 và ngày 28/11/2014 do ông P cung cấp, đúng là chữ ký của ông Đ. Do đó, án sơ thẩm xác định ông Đ đã vay của ông P tổng cộng 45.000.000 đồng và buộc trả tiền lãi là 9.607.500 đồng là có căn cứ. Tuy nhiên, án sơ thẩm tuyên buộc ông Đ và bà H có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền nợ vay nói trên cho ông P là chưa phù hợp. Bởi lẽ, ông P xác định chỉ có ông Đ đến hỏi vay tiền, việc giao tiền và làm biên nhận cũng chỉ có riêng ông Đ, bà H hoàn toàn không biết. Trong khi đó, bà H lại cho rằng ông Đ là người thường xuyên cờ bạc dẫn đến nợ nần, lại không quan tâm gia đình và ông Đ đã bỏ gia đình đi hơn hai năm, bà phải tự chăm sóc các con. Ngoài ra, ngày 19/11/2016, chính quyền địa phương cũng đã xác định ông Đ đã bỏ gia đình đi từ ngày 15/8/2014. Hiện ông P không có chứng cứ nào chứng minh được khoản tiền ông Đ đã vay của ông được sử dụng vào mục đích chung của gia đình. Do đó, có cơ sở xác định khoản tiền 54.607.500 đồng mà án sơ thẩm đã tuyên là nợ cá nhân của ông Đ nên không thể tuyên buộc bà H có nghĩa vụ liên đới cùng ông Đ có trách nhiệm trả tiền cho ông P.

[2] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà Văn Thị Thu H, sửa một phần bản án sơ thẩm 24/2017/DSST ngày 12 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện CN; Án phí sơ thẩm và án phí phúc thẩm bà H không phải chịu. Những nội dung khác không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn  cứ  vào  khoản 2  Điều  308  Bộ  luật  Tố  tụng  dân  sự;  Nghị  quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của bà Văn Thị Thu H. Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 24/2017/DSST ngày 12 tháng 4 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện CN.

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Tấn P. Buộc ông Huỳnh Phương Đ có nghĩa vụ thanh toán cho ông Trịnh Tấn P số tiền 54.607.500 đồng (năm mươi bốn triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn năm trăm đồng).

Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trịnh Tấn P về việc buộc bà Văn Thị Thu H có nghĩa vụ liên đới với ông Huỳnh Phương Đ thanh toán cho ông Trịnh Tấn P số tiền 54.607.500 đồng (năm mươi bốn triệu sáu trăm lẻ bảy nghìn năm trăm đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả theo quy định tại các Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Văn Thị Thu H không phải chịu. Ông Huỳnh Phương Đ phải nộp số tiền 2.730.375 đồng (hai triệu bảy trăm ba mươi nghìn ba trăm bảy mươi lăm đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CN.

Ông Trịnh Tấn P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại cho ông P số tiền 1.375.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số 0010669 ngày 10/10/2016 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CN.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Văn Thị Thu H không phải chịu, bà H đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0011232 ngày 03/5/2017 được nhận lại tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CN.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 117/2017/DS-PT ngày 18/08/2017 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Số hiệu:117/2017/DS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Cà Mau
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:18/08/2017
Là nguồn của án lệ
    Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về