Bản án 115/2020/HS-ST ngày 30/07/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 115/2020/HS-ST NGÀY 30/07/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

 Ngày 30 tháng 07 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 78/2020/TLST-HS ngày 05 tháng 06 năm 2020 theo Quyết định đưa ra xét xử số 104/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 07 năm 2020, đối với bị cáo:

Đoàn Tuấn A, sinh năm 1985; đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ X, phường M, quận H, thành phố H; nơi cư trú: Phòng Y, số Z đường T, phường Y, quận H, thành phố H; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 8/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; họ tên cha: Đoàn Văn Đ; họ tên mẹ: Nguyễn Thị Ánh T; gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; họ tên vợ: Nguyễn Thị Ngọc A; bị cáo có 01 con, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 625/HSST ngày 26/8/2002 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Đoàn Tuấn A 15 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản”, đã xóa án tích; Bản án số 592/2013/HSST ngày 26/12/2013 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt Đoàn Tuấn A 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/09/2015, đã xóa án tích.

Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 15/12/2019 đến ngày 21/12/2019 chuyển tạm giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an thành phố Hà Nội, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 01 giờ 20 phút ngày 15/12/2019, tại khu vực gầm cầu vượt Phú Thụy thuộc địa bàn xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội, Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Gia Lâm kiểm tra bắt quả tang Đoàn Tuấn A, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ X, phường M, quận H, thành phố H, đang tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ của Đoàn Tuấn A, gồm:

- 01 túi ni lông màu trắng được quấn ngoài băng dính màu đen, bên trong chứa tinh thể màu trắng. Tuấn A khai đó là ma túy “đá” Tuấn A mang theo để sử dụng.

- 01 xe máy kiểu dáng Honda SH đeo biển kiểm soát: 29N1- 28468, số máy:

JF42E-0036337, số khung: RLHJF: 4218DY036221, xe cũ đã qua sử dụng.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đoàn Tuấn A tại địa chỉ Phòng Y, số Z đường T, phường Y, quận H, thành phố H, Cơ quan điều tra không phát hiện, thu giữ gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận giám định số 8023/KLGĐ-PC09 ngày 21/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội ngày 29/12/2019 kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilong là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 6,023 gam.

Tại cơ quan điều tra, Đoàn Tuấn A khai nhận: Bản thân Tuấn A là đối tượng đã từng sử dụng ma túy. Khoảng 00 giờ 45 phút ngày 15/12/2019, Tuấn A đang ở nhà tại Phòng Y, số Z đường T, phường Y, quận H, thành phố H nhận được điện thoại của bạn gái tên là Nga (bạn quen biết ngoài xã hội) rủ Tuấn A mang ma túy đá sang khu vực huyện Gia Lâm, Hà Nội để cùng nhau sử dụng. Đoàn Tuấn A đồng ý hẹn gặp nhau tại cầu vượt Phú Thụy, thuộc địa phận xã Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội. Tuấn A điều khiển xe máy Honda SH mang BKS:

29N1- 28468 đi một mình sang Gia Lâm gặp Nga; Tuấn A dùng băng dính hai mặt màu đen quấn vào vị trí cạnh bầu lọc gió, gần bánh xe để cất giấu 01 gói ma túy. Khi đi đến gầm cầu vượt Quốc lộ 5 thuộc địa phận xã Dương Xá; Tuấn A dừng xe để gọi điện thoại cho Nga nhưng do điện thoại bị rơi mất trên đường đi nên không liên lạc được với Nga. Trong khi chờ đợi Nga, thì Đoàn Tuấn A bị Tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Gia Lâm kiểm tra phát hiện, bắt giữ cùng vật chứng.

Đối với đối tượng tên Nga, Tuấn A khai mới quen biết khoảng 2-3 tháng qua bạn bè xã hội, đã cùng nhau sử dụng ma túy. Ngoài tên Nga ra Tuấn A không biết thêm thông tin gì về Nga, nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh xử lý đối với Nga.

Đối với đối tượng bán ma túy, Tuấn A khai mua của H tại ga Trần Quý Cáp, Hà Nội với giá 1.500.000 đồng. Tuấn A không biết họ tên, tuổi, nơi ở của H nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xác minh, xử lý H.

Đối với 01 xe máy kiểu dáng Honda SH đeo BKS: 29N1- 28468, số máy: JF42E-0036337, số khung: RLHJF: 4218DY036221, Tuấn A trình bày: Cuối tháng 11/2019, H sinh năm: 1984; nhà ở: Phường P, quận H, thành phố Hlà bạn quen biết ngoài xã hội của Tuấn A, gặp Tuấn A để vay 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng. Để làm tin H đã để lại chiếc xe SH nêu trên, hẹn khi nào trả Tuấn A số tiền đã vay thì Tuấn A trả lại H xe SH. Việc vay mượn trên không viết giấy. Từ đó đến nay Tuấn A sử dụng xe SH đeo BKS: 29N1- 28468, chưa thay đổi, sửa chữa bộ phận nào của xe. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lâm đã tiến hành xác minh tại Công an phường Phường P, quận H, thành phố Hkhông xác minh được đối tượng tên là H như Tuấn A khai.

Ngày 25/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lâm đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với số khung, số máy chiếc xe SH đang tạm giữ của Đoàn Tuấn A. Ngày 07/02/2020, phòng kỹ thuật hình sự Công an Hà Nội có bản Kết luận giám định số 891, kết luận: Xe máy Honda SH đeo BKS: 29N1- 28468 gửi giám định, hiện tại có số khung: RLHJF:

4218DY036221 và số máy: JF42E-0036337 là số nguyên thủy.

Qua điều tra xác minh đối với biển kiểm soát, số khung, số máy của chiếc xe máy trên thì có kết quả ba chiếc xe máy khác nhau. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách hồ sơ liên quan đối với chiếc xe máy trên để điều tra xác minh làm rõ sau.

Tại bản Cáo trạng số 104/CT-VKSGL ngày 04 tháng 06 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố bị cáo Đoàn Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra và Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Gia Lâm tham gia phiên tòa luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố theo Cáo trạng; sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đoàn Tuấn A từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2019; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu huỷ số ma túy thu giữ của bị cáo.

Đối với chiếc xe máy xe Honda SH đeo BKS: 29N1- 28468, số khung: RLHJF: 4218DY036221 và số máy: JF42E-0036337 thu giữ của Đoàn Tuấn A: Qua xác minh chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp và cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lâm đã ra quyết định tách tài liệu về chiếc xe máy trên để tiếp tục điều tra, xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.

Sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, bị cáo không có tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

 Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lâm và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân huyện Gia Lâm và Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 01 giờ 20 phút ngày 15/12/2019, tại khu vực gầm cầu vượt Phú Thụy thuộc địa bàn xã Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội, bị cáo Đoàn Tuấn A, đang tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 6,023 gam để sử dụng, thì bị cơ quan Công an kiểm tra bắt giữ cùng vật chứng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma tuý. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm truy tố bị cáo theo điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

[3.1] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý Nhà nước đối với các chất ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội. Methamphetamine là chất ma tuý rất độc hại, tàn phá và huỷ hoại sức khoẻ con người, là một trong những nguyên nhân chính phát sinh ra các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác trong đời sống xã hội. Trong những năm qua, tội phạm về ma tuý trên địa bàn thành phố Hà Nội diễn biến rất phức tạp, Nhà nước, các cấp chính quyền và Đoàn thể rất quan tâm và nỗ lực tuyên truyền, giáo dục về tác hại của ma tuý, kêu gọi toàn dân tích cực tham gia phòng chống tệ nạn về ma tuý và tội phạm may tuý. Bị cáo nhận thức được tác hại và hậu quả do ma tuý gây ra nhưng không tích cực phòng chống mà còn tàng trữ để sử dụng nên cần thiết phải xử lý nghiêm minh để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung; góp phần đấu tranh phòng chống tệ nạn và các tội phạm về ma tuý trong đời sống xã hội.

[3.2] Về nhân thân bị cáo: Bị cáo là người nghiện ma túy. Bản án số 625/HSST ngày 26/8/2002 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt Đoàn Tuấn A 15 tháng tù giam về tội “Cướp tài sản”, đã xóa án tích; Bản án số 592/2013/HSST ngày 26/12/2013 Tòa án nhân dân quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội xử phạt Đoàn Tuấn A 26 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã xóa án tích. Như vậy, thể hiện bị cáo có nhân thân xấu, đã được các cơ quan pháp luật giáo dục, cải tạo nhiều lần, khi trở về nơi cư trú không cố gắng rèn luyện bản thân, hòa nhập cộng đồng, mà lại tiếp tục phạm tội.

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Như vậy, bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[3.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tổng hợp nhận định ở trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian bằng việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn để đảm bảo việc răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Gia Lâm tại phiên toà là phù hợp.

[3.5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên toà thể hiện: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có việc làm, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với chiếc xe máy xe Honda SH đeo BKS: 29N1- 28468, số khung: RLHJF: 4218DY036221 và số máy: JF42E-0036337 thu giữ của Đoàn Tuấn A: Qua xác minh chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp và cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gia Lâm đã ra quyết định tách tài liệu về chiếc xe máy trên để tiếp tục điều tra, xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

[7] Về các nội dung khác:

Đối với đối tượng tên Nga, Tuấn A không biết tên tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với đối tượng bán ma túy tên H, Tuấn A không biết tên tuổi, địa chỉ, đặc điểm nhận dạng, Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đoàn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đoàn Tuấn A 05 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/12/2019.

2.2. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu huỷ ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 5,424 gam (đã trích mẫu để giám định 0,599 gam) thu giữ của bị cáo Đoàn Tuấn A, đựng trong 01 gói niêm phong có chữ ký của Đoàn Tuấn A, Giám định viên và chữ ký của cán bộ Đội cảnh sát ma túy, do Phòng PC09-Công an thành phố Hà Nội hoàn lại sau giám định (tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lâm và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lâm ngày 23/06/2020).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo.

Bị cáo Đoàn Tuấn A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 115/2020/HS-ST ngày 30/07/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:115/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gia Lâm - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:30/07/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về