Bản án 115/2020/HS-ST ngày 27/10/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Y - TỈNH N

BẢN ÁN 115/2020/HS-ST NGÀY 27/10/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 27 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 113/2020/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2020/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: N- sinh ngày 06 tháng 5 năm 1994, tại xã Nghi Kiều, huyện N, tỉnh N. Nơi cư trú: Xóm 4, xã Nghi Kiều, huyện N, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nvà bà L; vợ, con: chưa có. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/7/2020 đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến: ông Đ– sinh năm 1987. ( vắng mặt) Trú tại: Xóm Thọ Trà, Xã H, huyện Y, tỉnh N.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Anh T– sinh năm 1994.

Trú tại: Xóm 6, xã N, huyện N, tỉnh N. ( vắng mặt)

2. Bà L, sinh năm 1972.

Trú tại: Xóm 4, xã N, huyện N, tỉnh N. ( có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 16/7/2020, Tdùng điện thoại có số sim 0332470919 gọi vào máy điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG của Ncó số sim 0363949714 và hỏi “có ở nhà không” thì Đức trả lời “có”. Thông hỏi tiếp “có xe không, cho mượn xe đi lấy đồ về ta chơi”, Đức trả lời “có, vào nhà mà lấy”. Khoảng 15 phút sau, Thông đến nhà gặp Đức thì Đức đưa chìa khóa xe cho Thông. Sau đó, Thông lấy xe máy nhãn hiệu HONDA, Loại Dream, màu nâu, biển kiểm soát 37L9-6811 và rủ Đức đi cùng thì Đức đồng ý. Khi đi Thông lấy chiếc áo khoác dài tay, màu xanh rằn ri của Đức khoác lên người rồi cả hai cùng đi. Trên đường đi Đức hỏi Thông “lấy nhiều không”, Thông trả lời “một triệu rưỡi”, Đức hỏi tiếp “đi lấy mô đây” thì Thông trả lời “sang Sơn Thành lấy”. Khi cả hai điều khiển xe đến khu vực xã Sơn Thành thì Thông đưa cho Đức 20.000 đồng và nói Đức vào quán uống nước ngồi chờ còn Thông đi mua ma túy. Khoảng 10 phút sau Thông quay lại đón Đức đi về, trên đường về Đức hỏi Thông “lấy được chưa”, Thông trả lời “lấy được rồi”. Cả hai điều khiển xe đến khu vực Sơn Mỹ thuộc xóm Rú Nhót xã Sơn Thành thì bị tổ công tác Công an huyện Y kiểm tra. Qúa trình kiểm tra Thông cởi chiếc áo dài tay màu xanh rằn ri và bỏ chạy, Công an phát hiện bên trong túi áo có 03 bọc giấy màu trắng, bên trong có chưa chất bột màu trắng (nghi là ma túy). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ vật chứng.

Trong ngày 16/7/2020, cơ quan điều tra Công an huyện Y đã mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại (có sự chứng kiến của cán bộ kiểm sát huyện Y và bị can). Theo kết quả khối lượng bọc giấy màu trắng thứ nhất (M1) cả bao bì là: 0,13 gam, sau khi loại bỏ bao bì có khối lượng là 0,03 gam.

Khối lượng bọc giấy màu trắng thứ hai (M2) cả bao bì là: 0,18 gam, sau khi loại bỏ bao bì là 0,08 gam.

Khối lượng bọc giấy màu trắng thứ ba (M3) cả bao bì là: 0,155 gam, sau khi loại bỏ bao bì là 0,05 gam.

Tổng khối lượng chất bột màu trắng ở cả 03 bọc giấy màu trắng sau khi loại bỏ bao bì là: 0,16 g (không phẩy mười sáu gam). Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã lấy 0,02 gam chất bột màu trắng ở bọc giấy màu trắng ký hiệu M1; 0,05 gam ở bọc giấy ký hiệu M2; 0,03 gam ở bọc giấy ký hiệu M3 để gửi đi giám định.

Theo kết luận giám định số: 1059/KL-PC09 ngày 22 tháng 7 năm 2020 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh N kết luận: Ba chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3) thu giữ của Ngửi tới giám định đều là ma túy (Heroin) có tổng khối lượng là 0,16 g (Không phẩy mười sáu gam).

Cáo trạng số: 114/VKS-HS ngày 08/10/2020 của VKSND huyện Y, N truy tố bị can Nvề Tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Y giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử lý bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: không.

- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

+/ Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại thu giữ của Nlà 0,06 gam ma túy (Heroin).

+ Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc áo dài tay rắn ri màu xanh + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG loại máy GalaxyJ4 màu đen có chưa số sim 0363949714.

+ Trả lại 01 chiếc xe máy HONDA, Loại Dream, màu nâu, biển kiểm soát 37L9-6811 cho bà Lâm Thị Thu.

- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết 326/2016 của UBTVQH buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Căn cứ buộc tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa công khai bị cáo Nđã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Trên cơ sở lời khai nhận của bị cáo, biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng thu giữ được và kết luận giám định là hoàn toàn phù hợp với nhau. Cơ quan điều tra, điều tra viên; Viện kiểm sát, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét thấy đã có đủ căn cứ kết luận Nphạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, tỉnh N đã quy kết. Ma túy (Heroin) mà Ntàng trữ có khối lượng 0, 16 gam, chính vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Y tuy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ.

Đây là một vụ án nghiêm trọng, hành vi của bị cáo không những xâm phạm chính sách thống nhất quản lý của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động tàng trữ chất ma túy mà còn xâm phạm trật tự, an toàn xã hội. Xét hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để có tác dụng giáo dục chung và phòng ngừa riêng.

[2] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nkhông phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Qúa trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nđã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiện hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[3] Hình phạt bổ sung: Xét bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[4] Đối với Tlà người đi mua ma túy cùng với Đức. Qua xác minh đối tượng Thông hiện không có mặt tại địa phương, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.

Đối và bà L là chủ sở hữu chiếc xe máy HONDA, Loại Dream, màu nâu, biển kiểm soát 37L9-6811, khi Đức sử dụng xe máy để phạm tội bà Hiền không biết, do đó không có cơ sở để xử lý.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy (Heroin) còn lại 0,06 g (Không phẩy không sáu gam), xét vật chứng là loại Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc xe máy HONDA, Loại Dream, màu nâu, biển kiểm soát 37L9- 6811 xác định chủ sở hữu là bà L cần trả lại cho chủ sở hửu.

- 01 chiếc áo dài tay rắn ri màu xanh không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG loại máy GalaxyJ4 màu đen có chứa số sim 0363949714 cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,  

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt N15 ( Mười lăm ) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 07 năm 2020.

-Vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1, 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tịch thu tiêu huỷ: 01 chiếc áo dài tay rắn ri màu xanh đã qua sử dụng, không còn giá trị; 0,06 ( không phẩy không sáu) gam heroine đã niêm phong trong phong bì thư.

Trả 01 chiếc xe máy HONDA, Loại Dream, màu nâu, biển kiểm soát 37L9- 6811 đã qua sử dụng cho chủ sở hữu là bà L:

Tịch thu, hóa giá, sung vào ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG loại máy GalaxyJ4 màu đen có chứa số sim 0363949714 đã qua sử dụng.

( Chi cục thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh N quản lý vật chứng ngày 14/10/2020).

-Án Phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nphải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.


7
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 115/2020/HS-ST ngày 27/10/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:115/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Thành - Nghệ An
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:27/10/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về