Bản án 115/2020/HS-ST ngày 18/11/2020 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 115/2020/HS-ST NGÀY 18/11/2020 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 18/11/2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 102/2020/TLST-HS ngày 12/10/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2020/QĐXXST-HS ngày 21/10/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2020/HSST-QĐ ngày 03/11/2020 đối với các bị cáo:

1. Phạm Khắc A sinh ngày 10/10/2003 tại thành phố Hải Phòng (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 02 tháng 04 ngày). Nơi cư trú: Thôn 7, xã K, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Khắc Hường và bà Tạ Thị Thương; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Phạm Khắc H sinh năm 1971; nơi cư trú: Thôn 7, xã K, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Làm ruộng - Là bố của bị cáo; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bùi Văn Bình - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

2. Bùi Quang T sinh ngày 23/4/2002 tại Hải Phòng (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 17 tuổi 7 tháng 11 ngày). Nơi cư trú: Thôn C, xã H, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Tuyển và bà Nguyễn Thị Hiền; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giữ từ ngày 01/7/2020; có mặt.

3. Bùi Quang A sinh ngày 21/01/1999 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn 5, xã M, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Dương và bà Đoàn Thị Liên; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 17/6/2019, Công an huyện Thuỷ Nguyên xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ, cất giấu trong người các loại dao thường dùng trong sinh hoạt hàng ngày với mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giữ từ ngày 16/3/2020 theo Lệnh tạm giam của Công an thành phố Hải Phòng để điều tra về hành vi Giết người; có mặt.

4. Nguyễn Văn T sinh ngày 13/8/2001 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Toản và bà Nguyễn Thị Toản; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giam từ ngày 02/7/2020; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trương Thị Hòa - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

5. Đào Tuấn Kim C sinh ngày 22/11/2003 tại Hải Phòng (Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 22 ngày). Nơi cư trú: Thôn 3, xã K, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Tuấn Lượng và bà Nguyễn Thị Tuyến; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/7/2020; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Ông Đào Tuấn L sinh năm 1972; nơi cư trú: Thôn 3, xã Kiền Bái, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do - Là bố của bị cáo; vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vũ Thị Minh Hiếu - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị hại: Anh Vũ Bá V sinh ngày 04/9/2002; nơi cư trú: Thôn 8, xã M, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do anh Vũ Bá V sinh ngày 04/9/2002 và Phạm Khắc A cùng có tình cảm với cháu Đào Minh Ngọc sinh năm 2003 ở xã Hoàng Động, huyện Thủy Nguyên nên cả hai đã xảy ra mâu thuẫn do cháu Ngọc chụp ảnh cùng Vinh đăng lên facebook. Vinh và Khắc Anh đã có lời qua tiếng lại trên mạng xã hội.

Khoảng 20 giờ ngày 14/12/2019, tại quán nước của bà Bùi Thị Oanh ở đường 25/10 thị trấn Núi Đèo, huyện Thủy Nguyên (trụ sở cũ của Công an huyện Thủy Nguyên) có 02 nhóm thanh niên ngồi uống nước. Trong đó, Vinh ngồi cùng với các bạn gồm: Nguyễn Tự Trung sinh ngày 19/10/2002 ở xã Gia Đức, Thủy Nguyên; Nguyễn Khắc Vương sinh ngày 25/7/2002 ở xã Liên Khê, huyện Thủy Nguyên; Lê Văn Vũ sinh ngày 21/02/2002 và Bùi Quốc Khánh sinh ngày 01/9/2002 cùng trú tại xã Gia Minh, Thủy Nguyên và một số người khác. Khắc Anh ngồi với Đào Tuấn Kim C và một số người khác. Nhóm của Vinh ra về trước, thì có một số người chửi và chỉ tay về phía Khắc Anh. Thấy vậy, Khắc Anh gọi điện thoại cho Bùi Quang T thông báo về việc Vinh và nhóm bạn gây sự đánh mình, đồng thời bảo Quang Trung đến đánh Vinh. Quang Trung đồng ý. Lúc này, Quang Trung đang đi cùng với Bùi Quang A và Nguyễn Văn T cùng một số người bạn khác (chưa xác định được căn cước) nên Quang T đã rủ Tường và Quang A đi đánh nhau với Vinh. Cả nhóm đồng ý. Khi đi, Quang T mang theo 01 tuýp sắt (bằng kim loại, hai đầu vát nhọn, dài khoảng 1,5m), Tường lấy 01 chiếc dao tự chế (bằng kim loại sáng màu dài khoảng 40cm, đầu bằng) ở trong cốp xe của mình đưa cho Quang Anh. Tường lái xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu đen không đeo biển kiểm soát của mình, chở Quang Anh, còn Quang T được một người bạn khác (chưa xác định được căn cước) điều khiển xe mô tô chở đến quán bà Oanh.

Tại quán nhà bà Oanh, Cương ngồi cạnh Khắc A chứng kiến và biết nội dung Khắc A gọi và rủ Quang T đến đánh nhau với Vinh. Khi thấy Quang T, Quang A và T đi qua thì Khắc A chạy ra vẫy tay, ra hiệu cho nhóm của Quang T rẽ vào quán. Lúc này, nhóm của Vinh gồm có Vinh, Vũ, Khánh, Vương, Tự Trung dùng ghế nhựa (loại ghế tựa lưng loại nhỏ, kích thước cao khoảng 40cm x 50cm, màu vàng) và tay chân xông vào đánh Khắc A làm Khắc A chạy vào phía trong quán. Tự Trung đuổi theo giữ và ghì cổ Khắc A để nhóm của mình đánh Khắc A. Thấy Khắc Anh bị đánh, Quang T cầm tuýp sắt chạy vào hô “Chúng mày đánh em tao à?” thì nhóm của Vinh không đánh Khắc A nữa, bỏ chạy ra ngoài đường. Quang T cầm tuýp sắt, Khắc A cầm cốc uống nước bằng kim loại đuổi đánh Vinh. Khi Vinh chạy ra đến cửa quán thì bị Quang A dùng dao tự chế chém một nhát trúng vào lưng. Vinh tiếp tục chạy về hướng UBND xã Thủy Sơn thì Quang T và Quang Anh cầm theo hung khí đuổi đánh chém nhiều nhát vào người Vinh từ phía sau. Cương cũng cầm 01 miếng gạch bê tông (kích thước khoảng 05-07cm x 20cm) đuổi theo đánh Vinh. Vinh chạy đến khu vực trước cửa nhà bà Nguyễn Thị Xuân, sinh năm 1957, trú tại số nhà 51, đường 25/10, thị trấn Núi Đèo, huyện Thủy Nguyên (cách quán nhà bà Oanh khoảng 100m) do bị đau nên dừng lại thì Quang Trung, Quang Anh đuổi kịp đã dùng tuýp sắt, dao đánh chém Vinh, còn Cương dùng gạch bê tông ném vào mạn sườn, dùng chân đạp vào người Vinh. Thấy Vinh bị đau thì cả nhóm dừng lại, không đánh nữa, bỏ đi. Trên đường về, các đối tượng đã vứt hung khí đi (quá trình điều tra không thu giữ được vật chứng). Sau đó, Vinh được mọi người đưa đi cấp cứu. Khắc Anh bị thương cũng đến bệnh viện điều trị thương tích.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra thu giữ: 04 mảnh nhựa vỡ màu vàng (ghế nhựa) rải rác trong diện 1,3m x1,25cm ở khu vực đường nền bê tông.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 02/2020/TgT ngày 10/01/2020 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận: Vũ Bá V bị nhiều vết thương rách da phần mềm ở nhiều vùng khác nhau cụ thể: vết thương vùng sau trên cánh tay phải (kích thước 2,3cm x 0,3cm) làm giảm 01% sức khỏe; vết thương mặt sau ngoài khuỷu tay phải (kích thước 04cm x 0,2-0,4cm) làm giảm 02% sức khỏe; vết thương mặt ngoài 1/3 trên cánh tay trái nằm ngang (kích thước 07cm x 0,2-0,6cm) làm giảm 03% sức khỏe; 02 vết thương nằm chéo hình dấu sắc trên đường nách sau, nách trước mạn sườn trái lần lượt có (kích thước 04cm x 0,2-0,3cm; 1,6cm x 0,2-0,3cm) làm giảm 02%, 01% sức khỏe; vết phẫu thuật nằm trên cùng đường nách giữa mạn sườn trái (kích thước 02cm x 0,3-0,5cm) làm giảm 01% sức khỏe; vết thương nằm dọc vùng cột sống ngực giữa hai bả vai (kích thước 3,3cm x 0,3cm) làm giảm 02% sức khỏe; 02 vết thương vùng lưng phải, trái chéo hình dấu sắc hơi cong có (kích thước 6,5cm x 0,3-0,6cm; 4,5cm x 0,2-0,3cm) lần lượt làm giảm 03%, 02% sức khỏe; vết thương nằm dọc vùng ngoài mông đùi trái (kích thước 4,7cm x 0,3cm) làm giảm 02% sức khỏe; vết thương thấu ngực gây tràn khí, tràn dịch màng phổi trái làm giảm 05% sức khỏe. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên theo phương pháp cộng là 22%. Các thương tích nêu trên đều có đặc điểm do vật sắc hoặc sắc nhọn tác động trực tiếp theo hướng gần như vuông góc với bề mặt da nơi tổn thương gây nên, riêng vết thương lưng phải sẹo hơi cong nên có hướng từ sau ra trước, chếch từ trên xuống dưới, từ trái sang phải.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 179/2020TgT ngày 06/5/2020 của Trung tâm pháp y thành phố Hải Phòng kết luận: Phạm Khắc A bị chấn thương gây sưng đau đầu, sưng tím hố mắt phải, sưng đau ngón tay IV tay trái, vỡ nền xương đốt 2 ngón IV tay trái. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do chấn thương vỡ đốt ngón IV tay trái gây nên là 01%. Thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên.

Tại Cơ quan điều tra, anh Vinh khai: Nguyên nhân anh và các bạn đánh Khắc Anh là do Khắc Anh thách thức, chửi anh trên facebook. Khi anh Vinh đi uống nước với các bạn thì cũng gặp Khắc Anh và các bạn tại quán. Anh Vinh không biết trong số các bạn của mình ai là người chửi Khắc Anh. Việc cả nhóm bạn cầm ghế nhựa đánh Khắc Anh là do biết Khắc Anh gọi người đến đánh nhau. Thương tích của anh Vinh đã ổn định, đã được bồi thường 50 triệu đồng, anh Vinh không yêu cầu bồi thường thêm.

Khắc Anh bị các bạn của anh Vinh đánh gây thương tích làm giảm 01% sức khỏe, nhưng không có đơn yêu cầu khởi tố vụ án, không đề nghị cơ quan công an xử lý các đối tượng gây thương tích cho mình, không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Quá trình điều tra, Bùi Quang T bỏ trốn, Cơ quan điều tra đã truy nã. Đến ngày 01/7/2020 thì Quang Trung đến Cơ quan công an đầu thú.

Tại cơ quan điều tra các bị cáo T, Khắc A, Quang A, Tường và Cương cùng khai nhận như nội dung nêu trên. Các bị cáo đều khai không được bàn bạc từ trước về việc đánh nhau với nhóm của Vinh. Khắc Anh đi uống nước cùng Cương thì bị nhóm của Vinh chửi nên Khắc Anh đã gọi Quang Trung đến đánh nhau. Quang Trung đang đi cùng Quang Anh và Tường nên Quang Trung đã rủ Quang Anh, Tường cùng đi đánh nhau. Khi đi Quang Trung, Tường, Quang Anh đã chuẩn bị hung khí mang theo. Đến nơi, thì Khắc Anh đón cả nhóm. Thương tích của anh Vinh chủ yếu do Quang Trung dùng tuýp sắt, Quang Anh dùng dao tự chế, Cương dùng gạch bê tông gây nên. Còn Khắc Anh dùng cốc bằng kim loại đuổi đánh Vinh nhưng không trúng, Tường là người cung cấp hung khí (dao tự chế) và chở Quang Anh đi đánh nhau. Sau khi sự việc xảy ra, các bị can Khắc Anh, Tường, Quang Trung cùng gia đình đã góp được 50.000.000 đồng bồi thường cho anh Vinh.

Về dân sự: Đã giải quyết xong tại giai đoạn điều tra, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ nhưng không truy tìm được các vật chứng là hung khí mà các bị can dùng gây thương tích cho anh Vinh.

Tại phiên tòa các bị cáo trình bày thống nhất về hành vi như đã nêu trên, không có ý kiến hay khiếu nại gì; bị cáo. Bị hại không yêu cầu bồi thường nhưng đề nghị xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Bản Cáo trạng số 104/2020/CT-VKS ngày 06/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố Phạm Khắc A, Bùi Quang T, Bùi Quang A, Nguyễn Văn T và Đào Tuấn Kim C về tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 (vi phạm các điểm a, i khoản 1 Điều 134) của Bộ luật Hình sự (BLHS). Đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 101; các điều 17, 38, 58; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt Phạm Khắc A từ 27 đến 30 tháng tù; Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 101; các điều 17, 38, 58; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS xử phạt Bùi Quang T từ 24 đến 27 tháng tù; Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điều 17, 38, 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS xử phạt Bùi Quang A từ 36 đến 42 tháng tù; Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điều 17, 38, 58; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS xử phạt Nguyễn Văn T từ 30 đến 36 tháng tù; Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; khoản 1 Điều 101; các điều 17, 38, 58; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS xử phạt Đào Tuấn Kim C từ 18 đến 24 tháng tù; miễn nộp án phí cho bị cáo Tường; các bị cáo khác phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Khắc A phát biểu: Đồng ý với lời khai của bị cáo tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo phát biểu: Đồng ý với tội danh, điều luật như Kiểm sát viên đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo; bị hại là người có lỗi nên hành vi của các bị cáo không có tính chất côn đồ. Ngoài ra, người bào chữa cho bị cáo Phạm Khắc A phát biểu quan điểm bị cáo giữ vai trò thấp, đồng phạm giản đơn, đề nghị quyết định hình phạt dưới 27 tháng tù. Người bào chữa cho bị cáo Tường nêu quan điểm bị cáo có vai trò thấp nhất trong vụ án, không tác động, không có hành vi gây thương tích cho bị hại; đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của BLHS được hướng dẫn tại Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/7/2017 của Tòa án nhân dân tối cao; gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo; đề áp dụng Điều 65 của BLHS cho bị cáo được hưởng án treo. Người bào chữa cho bị cáo Cương nêu quan điểm bị cáo có thành tích xuất sắc trong học tập, đạt Huy chương vàng giải Taekwondo các Câu lạc bộ huyện Thủy Nguyên mở rộng; đạt huy chương vàng giải Taekwodo cúp các Câu lạc bộ thành phố Hải Phòng do Liên đoàn võ thuật Hải Phòng tổ chức. Đề nghị Hội đồng xét xử vận dụng tinh thần của Nghị quyết 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn “Người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu học tập hoặc công tác là người được tặng thưởng huân chương, huy chương, bằng khen, bằng lao động sáng tạo ...”. cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong học tập quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 của BLHS. Đề nghị áp dụng Điều 65 của BLHS cho bị cáo được hưởng án treo.

Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo trình bày nhận thức rõ hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm đã thực hiện và mong muốn được sự khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thủy Nguyên và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo Khắc Anh, Tường và Cương: [2.1] Về tình tiết côn đồ: Chỉ vì nhóm bạn của Vinh có hành vi chửi và chỉ tay về phía Khắc Anh, Khắc Anh đã coi đó là nguyên cớ, coi thường quy tắc của cuộc sống, gọi điện cho nhóm bạn đến can thiệp và đánh nhau với nhóm của bị hại. Trong khi Khắc Anh và các bị cáo khác hoàn toàn có lựa chọn khác chứ không nhất thiết phải sử dụng nguyên cớ nhỏ nhặt để gây ra thương tích. Để xác định tính chất côn đồ, cần xét trong mối quan hệ với bị hại, mối quan hệ nhân quả, tương quan lực lượng về người và hung khí, về địa điểm và không gian phạm tội, về nguyên nhân, thái độ phạm tội và hành vi tấn công, bối cảnh giữa cử chỉ và lời nói của người trong nhóm bạn bị hại đã đến mức các bị cáo phải tấn công bị hại hay chưa. Với phân tích trên, Viện kiểm sát truy tố hành vi của các bị cáo là côn đồ là có căn cứ pháp luật.

[2.2] Về đề nghị áp dụng án treo: Tại khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ- HĐTP ngày15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định những trường hợp không cho hưởng án treo gồm người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, côn đồ, dùng thủ đoạn xảo quyệt. Như đã phân tích ở trên, hành vi của các bị cáo là côn đồ nên không thỏa mãn điều kiện được hưởng án treo.

[2.3] Về tình tiết bị hại có lỗi: Xét trong mối quan hệ nhân quả thì nguyên nhân xâu xa bắt nguồn từ mâu thuẫn nhỏ nhặt. Các bên hoàn toàn lựa chọn cách xử sự phù hợp để hòa giải mâu thuẫn nhưng lại lấy đó là nguyên cớ để giải quyết mâu thuẫn. Mặt khác, cũng không xác định được bị hại có hành động gì trước để dẫn đến hậu quả xảy ra nên không đủ căn cứ khẳng định bị hại có một phần lỗi.

[2.4] Về ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Tường đề nghị áp dụng thêm tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng: Tội phạm các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng. Bị cáo Tường tuy không trực tiếp gây thương tích nhưng hỗ trợ Quang Anh tích cực; dùng xe máy chở, đưa dao của mình cho Quang Anh gây thương tích nên có vị trí, vai trò đáng kể trong vụ án có đồng phạm chứ không phải có vai trò thấp nhất như quan điểm của người bào chữa. Giải đáp 01/2017/GĐ- TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao có quy định trường hợp phạm tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng người phạm tội có vị trí, vai trò ít nghiêm trọng cũng được hưởng tình tiết này; song như đã phân tích, bị cáo Tường không đủ điều kiện được hưởng tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng như đề nghị của người bào chữa cho bị cáo.

[2.5] Về ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Cương đề nghị vận dụng pháp luật cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong học tập quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 của BLHS. Đây là thành tích trong hoạt động ngoại khóa dưới dạng sinh hoạt tại Câu lạc bộ võ thuật nên xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[3] Về những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt trong cuộc sống các bị cáo đã coi thường pháp luật, có hành vi dùng dao, tuýp sắt, kiếm tự chế, gạch bê tông tấn công gây thương tích cho anh Vũ Bá V làm giảm 22% sức khỏe là phạm tội Cố ý gây thương tích. Hành vi của các bị cáo thể hiện tính côn đồ; vật dùng gây thương tích là hung khí nguy hiểm nên các bị cáo đã vi phạm điểm đ khoản 2 Điều 134 của BLHS. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với hành vi đã thực hiện. Các chứng cứ xác định các bị cáo không có tội bị loại trừ.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Các bị cáo Khắc Anh, Tường, Quang Trung, Cương thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường thiệt hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Bị cáo Cương có thành tích trong tham gia sinh hoạt tại Câu lạc bộ võ thuật được tặng thưởng huy chương và có ông nội là thương binh; bị cáo Trung đầu thú, gia đình thờ cúng liệt sỹ; bị cáo Tường có bà ngoại được Nhà nước tặng thưởng Kỉ niệm chương do có thành tích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS.

[5] Về hình phạt: Vụ án có đồng phạm nên cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để có mức hình phạt phù hợp. Bị cáo Khắc Anh đã gọi điện cho bị cáo Trung đến đánh Vinh nên có vai trò lớn nhất trong vụ án và phải chịu mức án cao nhất. Bị cáo Trung tiếp nhận ý chí của Khắc Anh đã rủ thêm Quang Anh và Tường đi đánh Vinh. Thương tích của anh Vinh chủ yếu do Quang Trung và Quang Anh gây nên, Tường cung cấp hung khí nên vai trò của Quang Trung, Quang Anh và Tường ngang bằng nhau. Vai trò của Cương là thấp nhất; bị cáo Quang Anh đã có tiền sự thể hiện nhân thân xấu nên cần xử mức hình phạt cao hơn Quang Trung và Tường. Trong vụ án này Khắc Anh, Quang Trung và Cương phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng chính sách xử lý người chưa thành niên phạm tội quy định tại Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của BLHS xử mỗi bị cáo mức án bằng ¾ mức án được áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội.

[6] Về dân sự: Bị hại đã nhận được tiền bồi thường đầy đủ, không yêu cầu bồi thường thêm. Các bị cáo và gia đình đã thực hiện trách nhiệm bồi thường cho bị hại không yêu cầu các bị cáo có trách nhiệm liên đới bồi thường thanh toán số tiền đã bỏ ra bồi thường thay nên tách ra giải quyết bằng một vụ án dân sự khi có yêu cầu.

[7] Về những vấn đề khác: Vụ án này không có dấu hiệu của việc bỏ lọt tội phạm hoặc hành vi phạm tội mới nên Hội đồng xét xử không phân tích chứng cứ để xem xét việc khởi tố vụ án hay yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự. Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản nào khác nên không xét. Đối với hành vi của Vinh, Vương, Vũ, Khánh, Trung có hành vi đánh Khắc Anh gây thương tích làm giảm là 1% sức khỏe. Quá trình điều tra, Khắc Anh không có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và không đề nghị các cơ quan pháp luật xử lý các đối tượng gây thương tích cho mình nên Công an huyện Thủy Nguyên đã xử lý hành chính đối với các đối tượng trên về hành vi xâm hại đến sức khoẻ của người khác là phù hợp pháp luật. Đối với các nhóm bạn của Vinh và Khắc Anh đánh nhau có dấu hiệu của việc làm mất trật tự trị an nhưng các bạn bè của Vinh và Khắc Anh đều mới quen, bắc cầu qua các bạn của mình nên quá trình điều tra không xác định được căn cước lai lịch nên Cơ quan công an không xử lý là phù hợp pháp luật. Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Exciter màu đen không mang biển kiểm soát Công an thu giữ của Nguyễn Văn T. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị Toản (mẹ đẻ của Tường). Bà Toản không biết Tường dùng xe mô tô của mình đi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà Toản sử dụng là phù hợp pháp luật.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Phạm Khắc A, Bùi Quang T, Bùi Quang A và Đào Tuấn Kim C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Văn T là cá nhân thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo đã thành niên và bị hại có quyền kháng cáo; người đại diện của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo chưa thành niên có quyền kháng cáo bản án trong phạm vi và thời hạn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 91 và khoản 1 Điều 101; các điều 17, 38, 58; điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Phạm Khắc A 27 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày thi hành án.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 91 và khoản 1 Điều 101; các điều 17, 38, 58; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bùi Quang T 24 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 01/7/2020.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các điều 17, 38, 58; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bùi Quang A 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày ngày tạm giữ là ngày 16/3/2020.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; các điều 17, 38, 58; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn T 32 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giam là ngày 02/7/2020.

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 91 và khoản 1 Điều 101; các điều 17, 38, 58; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Đào Tuấn Kim C 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành án tính từ ngày thi hành án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; các bị cáo Phạm Khắc A, Bùi Quang T, Bùi Quang A và Đào Tuấn Kim C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án miễn nộp án phí cho bị cáo Nguyễn Văn T.

Bị cáo Bùi Quang T, Bùi Quang A, Nguyễn Văn T, người đại diện và người bào chữa cho bị cáo Phạm Khắc A, người bào chữa cho bị cáo Đào Tuấn Kim C và bị hại Vũ Bá V có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện cho bị cáo Đào Tuấn Kim C có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


11
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về