Bản án 115/2019/HSST ngày 14/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 115/2019/HSST NGÀY 14/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 14 tháng 11 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 120/2019/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2019/QĐXXST-HS ngày 01/11/2019 đối với bị cáo:

- Họ và tên: NGUYỄN DUY Q Giới tính: Nam - Tên gọi khác: Không - Sinh ngày: 29/01/1989 tại Nghệ An;

- Nơi ĐKNKTT: Xóm 8, xã B, huyện Y, tỉnh Nghệ An;

- Chổ ở: không ổn định;

- Nghề nghiệp: không;

- Trình độ học vấn: 9/12 - Quốc tịch: Việt Nam.

- Dân tộc: Kinh; -Tôn giáo: Không.

- Tiền án: Ngày 29/9/2011 bị Tòa án nhân dân quận 9, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội trộm cắp tài sản.

+ Ngày 23/9/ 2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 30 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Đến tháng 08/2017, Nguyễn Duy Q chấp hành xong hình phạt tù. Hiện chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: không - Nhân thân: Năm 2005, TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản.

+ Tháng 3/2006, TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản.

+ Tháng 07/2006, TAND huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Con ông: Nguyễn Duy Miên – Sinh năm: 1965 và bà: Nguyễn Thị Nguyên - Sinh năm: 1964.

- Bị cáo bị bắt ngày 19/8/2019, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an thành phố Đà Nẵng. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

- Anh Nguyễn Trọng H- Sinh năm: 1995- Trú tại: Thôn D, xã T, Tp Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

- Anh Trần Hữu P- Sinh năm: 2000- Trú tại: Thôn P, xã B, huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Đạt P- Sinh năm: 1992- Trú tại: Thôn D, xã T, Tp Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

- Ông Nguyễn Đăng T (Chủ Dịch vụ cầm đồ Bình Thạnh)– Sinh năm: 1966 - Trú tại: 818A đường T, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Đăng T1- Sinh năm: 1991- Trú tại: 818A đường T, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Hữu H- Sinh năm: 1995- Trú tại: Tổ 13 phường H, quận T, Tp Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để tiêu xài, từ tháng 5/2019 đến tháng 8/2019, Nguyễn Duy Q thực hiện hai lần trộm cắp tài sản trên địa bàn quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng, cụ thể như sau:

- Vụ thứ 1: Vào chiều ngày 02/05/2019, Nguyễn Duy Q đi xe khách từ Bình Dương đến bến xe khách TP Đà Nẵng, rồi đi xe ôm tới khu vực bãi tắm phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng để tắm biển và tìm nơi sơ hở để trộm cắp xe máy. Nguyễn Duy Q đi bộ dọc theo các tuyến đường Võ Nguyên Giáp thấy có nhiều xe mô tô để tại đây, nhưng không có ai trong coi. Nguyễn Duy Q đợi đến lúc trời chập tối, lợi dụng lúc thời điểm này ít người trông thấy để lấy trộm xe mô tô. Vào khoảng 18h cùng ngày, Nguyễn Duy Q phát hiện xe mô tô hiệu Exciter biển số 76D1- 31997 màu xanh bạc của anh Nguyễn Trọng H (Sinh năm: 1995; trú tại: Xã Tịnh Hòa, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi) để trên đường luồn xuống biển, cạnh nhà hàng Phước Mỹ, nhưng không có người trông coi, Q kiểm tra, thấy xe khóa cổ và nút khóa cổ xe bấm lại nên rút dây điện khóa cổ xe rồi dùng dây điện đã chuẩn bị trước đó để đấu nối lại, mở ổ khóa điện; tiếp đó, Q cầm tay lái xe mô tô biển số 76D1- 31997 giật mạnh làm gãy khớp khóa cổ, rồi khởi động chạy xe qua quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Q điều khiển chiếc xe trên đi theo đường Quốc lộ 1A vào tỉnh Bình Dương. Hai ngày sau, Nguyễn Duy Q nhờ một thanh niên quen biết ngoài xã hội tên Tiến (không rõ nhân thân, lai lịch) tiêu thụ xe mô tô nói trên được 14.000.000 đồng, Q cho đối tượng tên Tiến 1.000.000 đồng, số tiền còn lại Q tiêu xài hết.

* Tang vật thu giữ: Không. Tại kết luận số: 66 ngày 25/08/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Sơn Trà xác định: 01 chiếc xe mô tô BKS: 76D1- 31997, nhãn hiệu Exciter, màu xanh - bạc có giá trị còn lại là 27.000.000 đồng.

Về dân sự: Nguyễn Duy Q đã tác động gia đình bồi thường cho anh Nguyễn Trọng H số tiền 17.000.000 đồng. Anh Hữu yêu cầu bồi thường thêm 3.000.000 đồng.

- Vụ thứ 2: Vào giữa tháng 8/2019, Nguyễn Duy Q chuẩn bị 01 đoản phá khóa và mua 01 biển số xe mô tô 59S2- 50733 tại một cửa hàng sửa chữa xe máy tại tỉnh Bình Dương (không rõ địa chỉ). Sau đó, Q đi xe khách từ thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đến thành phố Đà Nẵng. Đến 15 giờ 00 ngày 17/08/2019, Q đến bến xe Đà Nẵng, rồi đi xe ôm đến khu vực Công viên biển Đông, thuộc phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng. Q đi bộ rảo quanh khu vực này tìm xe mô tô để trộm cắp khi phát hiện chiếc xe mô tô hiệu Exciter, màu xanh, BKS: 43D1 - 502.09 của anh Trần Hữu P (Sinh năm: 2000; trú tại: xã Bình Sơn, huyện Bình Châu, tỉnh Quảng Ngãi) để tại vỉa hè đường Võ Nguyên Giáp, đoạn trước công viên biển Đông thuộc phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng) không có người trông coi, Q đi đến, dùng đoản phá khóa cổ xe, rồi khởi động xe, chạy qua hướng quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, ra hướng quốc lộ 1A đi vào miền Nam để tiêu thụ. Trên đường đi, Nguyễn Duy Q bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Sơn Trà phát hiện bắt giữ cùng tang vật.

* Tang vật thu giữ:

+ 01 chiếc xe mô tô BKS: 43D1 - 502.09, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh- bạc, số khung G610GY 204423, số máy G3D4E217361, xe đã qua sử dụng ( đã trả lại cho bị hại)

+ 01 đoản phá khóa xe máy làm bằng kim loại.

+ 02 cờ lê làm bằng kim loại (gồm 01 cờ lê số 8 và 01 cờ lê số 10-12).

+ 01 cuộn dây điện màu vàng, dài khoảng 100cm, dây có hai lõi kim loại đồng

+ 01 cuộn băng keo màu đen. + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ, máy khóa bàn phím, không kiểm tra chất lượng.

+ 01 biển kiểm soát số 59S2 - 50733 Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà tách ra để xử lý.

Tại kết luận số: 66 ngày 25/08/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Sơn Trà xác định: 01 chiếc xe mô tô BKS: 43D1 - 50209, nhãn hiệu Exciter, màu xanh - bạc có giá trị còn lại là 27.000.000 đồng.

Về dân sự: Anh Trần Hữu P đã nhận lại tài sản bị mất không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Qua điều tra xác định xe mô tô BKS: 43D1 - 502.09 anh Trần Hữu P thuê của anh Nguyễn Đăng Thạnh ( Sinh năm: 1991, trú: Tổ 22, phường Thạc Gián quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng) để làm phương tiện đi lại.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà giữ nguyên quan điểm truy tố theo Bản cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 29/10/2019 và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Duy Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” đồng thời đề nghị:

- Áp dụng điểm c, g khoản 2 điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q từ 48 tháng đến 54 tháng tù, thời hạn tù tính ngày 19/8/2019.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại – anh Trần Hữu P đã nhận lại tài sản là 01 chiếc xe mô tô BKS: 43D1 - 502.09, nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu xanh- bạc, số khung G610GY 204423, số máy G3D4E217361và không yêu cầu bồi thường nên không xem xét giải quyết.

Đề nghị buộc bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho anh Nguyễn Trọng H số tiền 3.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 đoản phá khóa xe máy làm bằng kim loại; 02 cờ lê làm bằng kim loại (gồm 01 cờ lê số 8 và 01 cờ lê số 10-12); 01 cuộn dây điện màu vàng, dài khoảng 100cm, dây có hai lõi kim loại đồng; 01 cuộn băng keo màu đen. Tiếp tục quy trữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ, máy khóa bàn phím, không kiểm tra chất lượng của bị cáo Q để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 biển kiểm soát số 59S2 - 50733 Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà tách ra để xử lý là có cơ sở.

* Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận gì với phần luận tội của Kiểm sát viên.

Ý kiến của người bị hại về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên toà, nguời bị hại – Anh Trần Hữu P không có ý kiến gì về phần bồi thường dân sự cũng như về phần hình phạt đối với bị cáo. Đối với người bị hại- và anh Nguyễn Trọng H vắng mặt tuy nhiên trong quá trình điều tra anh Hữu không có ý kiến gì về phần hình phạt đối với bị cáo; về phần bồi thường dân sự anh Hữu yêu cầu bồi thường số tiền 3.000.000 đồng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Nguyễn Duy Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Vào các ngày 02/5/2019 và ngày 17/8/2019, Nguyễn Duy Q có 2 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích 02 lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản gồm: 01 xe mô tô hiệu Exciter biển số 76D1- 31997 màu xanh bạc trị giá 27.000.000 đồng để cạnh nhà hàng Phước Mỹ của anh Nguyễn Trọng H và 01 xe mô tô hiệu Exciter, màu xanh, BKS: 43D1 - 502.09 trị giá 27.000.000 đồng tại vỉa hè đường Võ Nguyên Giáp của anh Trần Hữu P để bán lấy tiền tiêu xài. Tổng giá trị thiệt tài sản Nguyễn Duy Q trộm cắp được là 54.000.000 đồng.

Hành vi trên đây của bị cáo Nguyễn Duy Q đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" với tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm c, g khoản 2 điều 173 của BLHS. Do đó cáo trạng số 113/CT-VKS ngày 31/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đã truy tố là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội thì thấy: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhưng với ý thức coi thường pháp luật, lười lao động nhưng lại muốn có tiền để tiêu xài cho bản thân một cách dễ dàng và nhanh nhất nên bị cáo đã bất chấp tất cả để thực hiện hành vi phạm tội của mình. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất liều lĩnh, táo bạo, nguy hiểm cho xã hội, nó không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân đây là một trong những khách thể quan trọng luôn được pháp luật bảo vệ mà còn gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất ổn định trật tự trị an xã hội tại địa phương.

[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, trong năm 2005 và năm 2006 bị cáo đã 03 lần bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xử phạt về hành vi trộm cắp tài sản, cả 03 lần này bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên căn cứ khoản 1 điều 107 BLHS được coi là không có án tích.

Trong vụ án này, bị cáo đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp có giá trị tài sản mỗi lần trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo cũng đã thành khẩn khai báo; tự nguyện khai ra hành vi phạm tội trước đó; bị cáo đã tác động gia đình tự nguyện khắc phục hậu quả nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, r, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5] Về biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, đã áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Qua điều tra xác định xe mô tô BKS: 43D1 - 502.09 anh Trần Hữu P thuê của anh Nguyễn Đăng T1 để làm phương tiện đi lại. Hiện nay anh Nguyễn Đăng T1 đã nhận lại xe; anh Trần Hữu P và anh Nguyễn Đăng T1 không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết. Xe này anh Nguyễn Đăng T1 mua của anh Nguyễn Hữu H chưa làm thủ tục sang tên.

Trong quá trình điều tra, người bị hại- anh Nguyễn Trọng H yêu cầu bị cáo phải bồi thường trị giá tài sản bị mất cắp là 20.000.000 đồng. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường số tiền 17.000.000 đồng. Anh Hữu yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền 3.000.000 đồng. Xét thấy yêu cầu trên là chính đáng, căn cứ vào điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự để xem xét chấp nhận.

[8] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 đoản phá khóa xe máy làm bằng kim loại; 02 cờ lê làm bằng kim loại (gồm 01 cờ lê số 8 và 01 cờ lê số 10-12); 01 cuộn dây điện màu vàng, dài khoảng 100cm, dây có hai lõi kim loại đồng; 01 cuộn băng keo màu đen xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ, máy khóa bàn phím, không kiểm tra chất lượng của bị cáo Q cần tiếp tục quy trữ để đảm bảo thi hành án.

(Các vật chứng, tài sản trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/11/2019).

Đối với 01 biển kiểm soát số 59S2 - 50733 Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà tách ra để xử lý là có cơ sở.

Đối với đối tượng tên Tiến là người tiêu thụ giúp Nguyễn Duy Q 01 chiếc xe máy BKS 76D1-31997, Cơ quan CSĐT Công an quận Sơn Trà đã ra thông báo truy tìm đối tượng nhưng chưa có kết quả.

Xét các nội dung đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà về tội danh, điều khoản luật và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần áp dụng đối với bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp các nhận định của Hội đồng xét xử.

[9] Án phí HSST và án phí DSST: Bị cáo phải chịu theo quy định của phápl uật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Duy Q phạm tội "Trộm cắp tài sản".

1. Căn cứ điểm c, g khoản 2 điều 173; điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy Q 48 (Bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính ngày 19/8/2019.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự Xử: Buộc bị cáo Nguyễn Duy Q phải có trách nhiệm bồi thường cho anh Nguyễn Trọng H số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Kể từ quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 357, điều 468 Bộ luật dân sự.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điều 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 đoản phá khóa xe máy làm bằng kim loại; 02 cờ lê làm bằng kim loại (gồm 01 cờ lê số 8 và 01 cờ lê số 10-12); 01 cuộn dây điện màu vàng, dài khoảng 100cm, dây có hai lõi kim loại đồng; 01 cuộn băng keo màu đen.

Tiếp tục quy trữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ, máy khóa bàn phím, không kiểm tra chất lượng của bị cáo Q để đảm bảo thi hành án.

(Các vật chứng, tài sản trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 13/11/2019).

3. Án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Duy Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

4. Án phí DSST: Bị cáo Nguyễn Duy Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Án xử công khai, bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng những người vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


29
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 115/2019/HSST ngày 14/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

    Số hiệu:115/2019/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà - Đà Nẵng
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:14/11/2019
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về