Bản án 115/2019/HNGĐ-ST ngày 09/09/2019 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO - TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 115/2019/HNGĐ-ST NGÀY 09/09/2019 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 09 tháng 9 năm 2019, tại Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 365/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019 về “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/7/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phạm Nhã T, sinh năm 1984 (có mặt).

Đa chỉ cư trú: Ấp L, xã L1, huyện B, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Phạm Duy A, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Hộ Khẩu: Ấp S, thị trấn L2, huyện L3, tỉnh Hậu Giang

Địa chỉ cư trú: Công ty cổ phần chế biến thủy sản A (ấp P, xã T1, thành phố M, tỉnh Tiền Giang).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai ngày 28/5/2019 cũng như lời khai tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là chị Phạm Nhã T đều trình bày: Chị và anh Phạm Duy A kết hôn vào ngày 11/5/2012, có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh Duy A thường xuyên cờ bạc, không chăm lo cho gia đình, vợ chồng thường gây gổ và anh Duy A còn đe dọa chị, nên làm tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không còn tình cảm, không thể sống chung được nữa và đã ly thân từ tháng 4/2019 đến nay. Vì vậy, chị Phạm Nhã T yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Duy A.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Không có, không có yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không có yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn là anh Phạm Duy A đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh Phạm Duy A vẫn không cung cấp cho Tòa án ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Nhã T. Anh Phạm Duy A đều vắng mặt tất cả các lần Tòa án triệu tập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Anh Phạm Duy A đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Phạm Duy A.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2] Về Hôn nhân: Chị Phạm Nhã T và anh Phạm Duy A cưới nhau năm 2012 và đăng ký kết hôn ngày 11/5/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Long Định, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, theo giấy chứng nhận kết hôn số 21, Quyển số 01/2012, nên hôn nhân giữa chị Phạm Nhã T và anh Phạm Duy A là hợp pháp.

[3] Theo chị Phạm Nhã T thì thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường gây gổ; Anh Duy A thường xuyên cờ bạc, không chăm lo cho gia đình, và còn đe dọa chị. Từ đó, làm tình cảm vợ chồng lạnh nhạt, không còn tình cảm, không thể sống chung được nữa và đã ly thân từ tháng 4/2019 đến nay, nên chị Phạm Nhã T yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Duy A. Anh Phạm Duy A thì không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Nhã T. Như vậy, theo trình bày của chị Phạm Nhã T và thì hôn nhân giữa chị Phạm Nhã T và anh Phạm Duy A đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị Phạm Nhã T yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Duy A là có cơ sở, ph hợp qui định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Chị Phạm Nhã T trình bày không có.

[5] Về tài sản chung: Chị Phạm Nhã T trình bày không có, không có yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Chị Phạm Nhã T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: 

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Phạm Nhã T.

Về Hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Nhã T và anh Phạm Duy A.

- Về án phí: Chị Phạm Nhã T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0014334 ngày 30/5/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, nên chị T nộp xong án phí.

- Chị Phạm Nhã T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Duy A vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


73
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 115/2019/HNGĐ-ST ngày 09/09/2019 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:115/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 09/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về