Bản án 114/2020/HS-PT ngày 01/09/2020 về tội đánh bạc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 114/2020/HS-PT NGÀY 01/09/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 01 tháng 9 năm 2020 tại Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 80/2020/TLPT-HS ngày 23/7/2020 do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 19/2020/HS-ST ngày 16/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.

- Bị cáo có kháng cáo: Mã Thị H; tên gọi khác: Không; Sinh năm 1985; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: xóm HN, xã TX, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Mã Viết Nh; con bà Lê Thị Ph; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ 02; Chồng: Triệu Văn L; Con: Có 03 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2020 đến ngày 21/5/2020 được thay thế biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh; (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Vũ Văn C – Trợ giúp viên pháp lý (do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Thái Nguyên cử, có mặt).

Ngoài ra còn có các bị cáo Nông Văn Q; Cam Văn L1; Lý Tài T; Hoàng Thị L2; Nguyễn Thị N; Nguyễn Văn V; Lý Văn T1; Lý Thế V1; Lý Tiến L3; Nguyễn Văn B; Nguyễn Văn M không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị; (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo: Anh Đặng Văn D sinh năm 1963; Nơi cư trú: xóm N1, xã LM, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ ngày 08/02/2020 Công an huyện Võ Nhai nhận được tin báo của quần chúng nhân dân: tại nhà Nông Văn Q tại xóm N1, xã LM, huyện VN có một số đối tượng đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa được thua bằng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Công an huyện Võ Nhai đã phối hợp với Công an xã Liên Minh đến nhà Q để xác minh tin báo. Khoảng 16 giờ tổ công tác đến nơi phát hiện có khoảng hơn 10 đối tượng đang đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa tại thảm trải trên nền nhà Q, tổ công tác đã giữ được 07 đối tượng.

Đến ngày 09/02/2020 Nguyễn Thị N, Hoàng Thị L2, Nguyễn Văn M, Lý Thế V1 đã đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Võ Nhai đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình. Ngày 23/4/2020 Mã Thị H bị bắt theo quyết định truy nã.

Tại cơ quan điều tra các đối tượng đã khai nhận: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 08/02/2020 Hoàng Thị L2, Nguyễn Thị N và Mã Thị H ở xóm HN, xã TX, huyện Võ Nhai và mẹ của H là Lê Thị Ph ở xóm N1, xã LM, huyện Võ Nhai đến nhà Q chơi (tổ chức ăn tết lại). Khi ngồi nói chuyện được một lúc các đối tượng rủ nhau cùng đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa. Q trải thảm xuống nền nhà để ngồi sau đó lấy bát, đĩa, và làm 04 quân bài bằng tre làm dụng cụ đánh bạc rồi Q, N, L2, H cùng đánh bạc.

Khi các đối tượng đang đánh bạc được khoảng 10 phút thì Cam Văn L1 đến cùng tham gia đánh bạc, tiếp đó có thêm các đối tượng Lý Tài T, Nguyễn Văn M, Lý Thế V1, Lý Tiến L3, Nguyễn Văn V, Lý Văn T1, Nguyễn Văn B lần lượt đến đánh bạc.

Mã Thị H tham gia đánh bạc từ đầu cho đến khi cơ quan Công an đến bắt giữ. H tham gia đánh bạc nhiều ván vào cả cửa chẵn và lẻ, đặt tiền từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng. Khi đang đánh bạc thì cơ quan Công an đến bắt H bỏ chạy thoát và đi làm việc tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Sau khi bị bắt theo lệnh truy nã, H đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội.

Cơ quan công an thu giữ trên chiếu bạc 6.000.000 đồng và 6.700.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dưới gầm giường trong nhà Q là tiền các đối tượng sử dụng đánh bạc cất giấu và một số tài sản khác. Quá trình điều tra các đối tượng khai số tiền bị thu giữ sẽ dùng vào mục đích đánh bạc gồm Nông Văn Q 70.000 đồng, Lý Tài T 870.000 đồng, Nguyễn Văn V 55.000 đồng, 150.000 đồng trong số thu của Lý Văn T1. Như vậy tổng số tiền các đối tượng gá bạc và đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa là 13.845.000 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 19/2020/HS-ST ngày 16/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Mã Thị H phạm tội "Đánh bạc”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt Mã Thị H 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ đi thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2020 đến ngày 21/5/2020.

Bản án cũng xử phạt bị cáo Nông Văn Q 21 (Hai mươi mốt) tháng tù về 02 tội “Gá bạc” và “Đánh bạc”; Cam Văn L1 08 (Tám) tháng tù, Lý Tài T 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo, Nguyễn Văn V, Lý Văn T1, Lý Tiến L3, Hoàng Thị L2, Nguyễn Thị N, Lý Thế V1, Nguyễn Văn B, Nguyễn Văn M mỗi bị cáo 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”.

Ngoài ra bản án còn quyết định về hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Án sơ thẩm xử xong, ngày 26/6/2020 bị cáo Mã Thị H kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo bổ sung nội dung kháng cáo xin giảm án. Trong phần phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ: “người phạm tội là phụ nữ có thai” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, vai trò của bị cáo thấp ở trong vụ án; Từ đó đề nghị: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Mã Thị H, sửa bản án sơ thẩm giảm hình phạt cho bị cáo còn 3 tháng tù, miễn án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm cho bị cáo.

Trong lời bào chữa của trợ giúp viên pháp lý đề nghị xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, có nhân thân tốt, gia đình thuộc diện hộ nghèo, giữ vai trò cuối vụ, tại cấp phúc thẩm được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó đề nghị Hội đồng xét xử giảm hình phạt cho bị cáo còn 2 tháng tù.

Bị cáo không tranh luận gì, nhất trí với lời bào chữa. Trong lời nói sau cùng bị cáo Mã Thị H xin được giảm án và xin hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Mã Thị H được làm trong hạn luật định là hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo bổ sung kháng cáo xin giảm án.

[2] Về nội dung: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ ngày 08/02/2020 tại nhà ở của Nông Văn Q tại xóm N1, xã LM, huyện VN, tỉnh Thái Nguyên, Mã Thị H cùng với 11 bị cáo khác đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa được thua bằng tiền. Đến hồi 16 giờ cùng ngày thì bị Tổ công tác Công an huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang nhưng H bỏ chạy thoát và đi làm việc tại huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã. Đến ngày 23/4/2020 Mã Thị H bị bắt theo quyết định truy nã nêu trên. Tổng số tiền các đối tượng gá bạc và đánh bạc bằng hình thức xóc đĩa là 13.845.000 đồng.

Với hành vi nêu trên, bản án sơ thẩm đã xử phạt bị cáo Mã Thị H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm án và xin án treo của bị cáo Mã Thị H, Hội đồng xét xử xét thấy: mặc dù bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nhưng sau khi phạm tội bị cáo đã đi khỏi địa phương, cơ quan điều tra đã đến địa phương xác minh nhiều lần nhưng bị cáo không có mặt, nên cơ quan điều tra đã ra lệnh truy nã. Đến ngày 23/4/2020 Mã Thị H bị bắt theo quyết định truy nã nêu trên. Theo hướng dẫn tại mục 2 Điều 3 Nghị quyết 02/2018/NQ -HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì bị cáo thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Bản án sơ thẩm đã đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo mức án như đã tuyên. Tuy nhiên, theo bị cáo khai, tại Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, bị cáo đã nộp chứng cứ xác định bị cáo có thai tính đến ngày 25/5/2020, thai được 7 tuần tuổi nhưng cấp sơ thẩm chưa đưa tài liệu đó vào hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, người bào chữa cho bị cáo cung cấp cho Hội đồng xét xử tài liệu nêu trên nên cần áp dụng cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ: “người phạm tội là phụ nữ có thai” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác trong vụ án này khi tham gia đánh bạc bị cáo chỉ có 200.000đ là người giữ vai trò cuối vụ. Xét toàn diện vụ án có căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự giảm 1 phần hình phạt cho bị cáo theo lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo tốt sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị nêu trên.

Đối với lời đề nghị của người bào chữa đề nghị xử phạt bị cáo 2 tháng tù là không có căn cứ, bỡi lẽ, theo quy định tại Điều 38 Bộ luật hình sự quy định: “Tù có thời hạn đối với người phạm tội có mức tối thiểu là 3 tháng…” nên Hội đồng xét xử chỉ có thể chấp nhận xem xét lời đề nghị giảm án cho bị cáo nhưng không thể xử phạt bị cáo 2 tháng tù được.

[5] Các quyết định khác không bị kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo thuộc diện hộ nghèo nhưng bản án sơ thẩm buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là không đúng hướng dẫn tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí. Hội đồng xét xử không buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Mã Thị H, sửa bản án sơ thẩm số 19/2020/HS-ST ngày 16/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, giảm một phần hình phạt cho bị cáo H và sửa phần án phí hình sự sơ thẩm.

1/ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm n, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 17, Điều 58, Điều 38 BLHS; xử phạt Mã Thị H 3 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ đi thời gian bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/4/2020 đến ngày 21/5/2020.

2/ Các quyết định của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

3/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí: bị cáo Mã Thị H không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.


17
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về