Bản án 112/2019/HSPT ngày 25/03/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 112/2019/HSPT NGÀY 25/03/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 21/3/2019 và ngày 25/3/2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2019/HSPT ngày 18/02/2019 đối với các bị cáo Vũ Thị H, Nguyễn Thị Hoài P, Chu Thành T về tội “Đánh bạc”, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 03/2019/HSST ngày 03/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Họ và tên: Vũ Thị H, Sinh năm: 1981, tại Thái Bình. Nơi ĐKNKTT và nơi ở trước khi phạm tội: Buôn Đ, xã Đ1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Vũ Văn C (sinh năm 1956); con bà: Nguyễn Thị T (sinh năm 1957); chồng: Nguyễn Tấn V (chết), bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1999, con nhỏ nhất sinh năm 2003; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Thị Hoài P, Sinh năm: 1986, tại Đắk Lắk. Nơi ĐKNKTT và nơi ở trước khi phạm tội: Buôn Đ, xã Đ1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Nguyễn D (sinh năm 1968). con bà: Nguyễn Thị T1 (sinh năm 1969); chồng là Lê Văn S, bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Họ và tên: Chu Thành T; Sinh năm: 1969, tại Bắc Giang. Nơi ĐKNKTT và nơi ở trước khi phạm tội: Buôn Đ, xã Đ1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 06/10; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông: Chu Quang B (đã chết); con bà: Nguyễn Thị C (đã chết); vợ là Nguyễn Thị S, bị cáo có 01 con sinh năm 2004;

Nhân thân: Năm 1991 phạm tội “ Cướp tài sản công dân” và “ Chống người thi hành công vụ”, bị Tòa án nhân dân Thị xã (Nay là thành phố) Buôn Ma Thuột xử phạt 04 năm tù.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung  vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 50 phút, ngày 23/5/2018 Công an huyện Krông Năng bắt quả tang Nguyễn Thị Hoài P đang đánh bạc dưới hình thức ghi số đề cho Nguyễn Văn C tại nơi ở của mình thuộc Buôn Đ, xã Đ1, huyện K. Thu giữ tại nhà P 01 điện thoại di động hiệu Sam Sung J3 và 01 quyển vở ô ly, bên trong có ghi tịch đề và số tiền 626.000 đồng; thu giữ trên người C 02 phơi đề.

Cùng thời gian, tại nhà của Chu Thành T tại Buôn Đ, xã Đ1, huyện K, Công an huyện Krông Năng bắt quả tang T đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số đề cho Nông Văn Q. Thu giữ tại nhà T 01 điện thoại di động Sam Sung J7, 01 điện thoại di động OPPO, 04 tịch đề và số tiền 130.000 đồng, thu giữ giữ trên người Q 01 phơi đề.

T và P khai nhận T và P ghi số đề rồi chuyển cho Vũ Thị H để hưởng hoa hồng. Vào lúc 18 giờ 35 phút ngày 23/5/2018 Công an huyện Krông Năng tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Thị H tại Buôn Đ, xã Đ1, thu giữ tại nhà của H 07 tịch đề, 01 điện thoại di động Iphone 7, 01 điện thoại di động Nokia 1280, 01 điện thoại di động TA-1017 và số tiền 1.065.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định được: Vũ Thị H mở cửa hàng buôn bán thẻ cào, điện thoại di dộng và dịch vụ cầm đồ tại nhà mình thuộc Buôn Đ, xã Đ1, huyện K. Đầu tháng 5/2018, Chu Thành T rủ H làm chủ lô đề để ghi số đề thì H đồng ý đứng ra làm chủ lô đề tại cửa hàng của mình và rủ Nguyễn Thị Hoài P cùng tham gia ghi số đề. H, P và T thỏa thuận tỷ lệ ăn chia hoa hồng như sau: Nếu ghi lô đề theo điểm thì người ghi được 01 điểm (Trường hợp đánh bao lô, đánh hai chân, đánh ba chân: 01 điểm đài miền bắc là 23.000 đồng, 01 điểm đài miền trung là 14.000 đồng; còn trường hợp đánh đá cặp bao lô: 01 điểm đài miền bắc là 50.000 đồng, 01 điểm đài miền trung là 30.000) thì hoa hồng là 1.000 đồng, nếu ghi đề theo tiền thì ghi được 10.000 đồng thì tiền hoa hồng là 2.000 đồng đối với đài miền trung, 1.000 đồng đối với đài miền bắc.

Sau khi ghi số đề cho các người chơi, T và P chuyển tiền và tịch đề cho H trước 17h15’ đối với đài miền trung, trước 18h15’ đối với đài miền bắc. Sau khi có kết quả, H sẽ chuyển tiền hoa hồng và tiền người chơi trúng đề cho P và T để trả cho người trúng đề. Riêng ngày 23/5/2018, T và P mới chỉ chuyển tịch đề đài Miền Trung cho H, còn tiền ghi đề và tịch đề đài Miền Bắc chưa kịp chuyển thì bị bắt quả tang.

Cách đánh lô đề được quy ước như sau:

- Bao lô hai chân: Đánh bất kỳ con số nào từ 00 đến 99 theo hai số cuối của tất cả các giải xổ số. Nếu trúng sẽ được trả tiền theo tỉ lệ 1 điểm ăn 70.000 đồng đối với đài miền trung, 1 điểm ăn 80.000 đồng đối với đài miền bắc;

- Bao lô ba chân: Đánh bất kỳ con số nào từ 000 đến 999 theo ba số cuối của tất cả các giải xổ số. Nếu trúng sẽ được trả tiền theo tỉ lệ 1 điểm ăn 500.000 đồng (không phân biệt đài miền bắc hay đài miền trung);

- Đá cặp bao lô: Đánh cùng lúc 02 cặp số từ 00 đến 99 theo hai số cuối của tất cả các giải. Nếu trúng sẽ được trả tiền theo tỉ lệ 01 điểm ăn 500.000 đồng đối với đài miền bắc, 01 điểm ăn 300.000 đồng đối với đài miền trung;

- Đầu đuôi: Đầu là đánh theo hai số cuối của giải tám đài miền trung và giải bảy đài miền bắc; đuôi là đánh theo hai số cuối của giải đặc biệt. Nếu trúng sẽ được trả tiền theo tỉ lệ 1.000 đồng ăn 70.000 đồng đối với đài miền trung, 1.000 đồng ăn 80.000 đồng đối với đài miền bắc.

- Đầu đuôi ba chân: Đầu là đánh theo ba số cuối giải bảy đài miền trung và giải 6 đài miền bắc; đuôi là đánh theo ba số cuối của giải đặc biệt.

Kết quả điều tra đã xác định:

T và P bắt đầu ghi số đề cho H và hưởng hoa hồng từ ngày 20/5/2018 đến ngày 23/5/2018, cụ thể như sau:

- Ngày 20/5/2018:

Nguyễn Thị Hoài P ghi số đề theo 03 đài Khánh Hòa, Kon Tum, Miền Bắc với số tiền 23.737.000 đồng, người chơi trúng 13.050.000 đồng. Tổng số tiền P đánh bạc trong ngày là 36.787.000 đồng. Tiền hoa hồng bị cáo được hưởng là 1.352.000 đồng.

Chu Thành T ghi đề theo 03 đài: Khánh Hòa, Kon Tum và Miền Bắc với số tiền 4.035.000 đồng, người chơi trúng 4.540.000 đồng. Tổng số tiền T đánh bạc trong ngày là 8.575.000 đồng, T được hưởng là 274.800 đồng tiền hoa hồng.

Vũ Thị H nhận tiền ghi đề từ P và T là 27.772.000 đồng; số tiền H trả tiền trúng đề cho P và T là 17.590.000 đồng. Tổng số tiền H đánh bạc trong ngày là 45.362.000 đồng. H hưởng lợi từ việc ghi số đề là 8.557.200 đồng.

- Ngày 21/5/2018:

Nguyễn Thị Hoài P ghi số đề theo 02 đài: Đài Phú Yên, Miền Bắc và chuyển tiền cho H là 14.268.000đ, người chơi trúng 8.000.000đ. Tổng số tiền P đánh bạc trong ngày là 22.519.000 đồng. Tiền hoa hồng P được nhận là 796.000 đồng.

Chu Thành T ghi đề theo 03 đài: Đài Phú Yên, Huế, Miền Bắc ghi được 5.122.000, người chơi trúng 3.550.000 đồng. Tổng số tiền T đánh bạc trong ngày là 8.672.000 đồng, tiền hoa hồng được hưởng là 511.600 đồng.

Vũ Thị H nhận từ P và T là 19.641.000 đồng; số tiền H trả tiền trúng đề cho P và T là 11.550.000 đồng. Tổng số tiền H đánh bạc trong ngày là 31.191.000 đồng, H hưởng lợi 6.783.400 đồng.

- Ngày 22/5/2018:

Nguyễn Thị Hoài P ghi số đề theo 02 đài: Đài Đắk Lắk, Miền Bắc ghi được 14.268.000 đồng, người chơi trúng 20.000.000 đồng. Tổng số tiền P đánh bạc trong ngày là 34.268.000 đồng. Tiền hoa hồng P được nhận là 856.000 đồng.

Chu Thành T ghi đề theo 03 đài: Đài Đắk Lắk, Quảng Nam, Miền Bắc ghi được 4.519.000 đồng, người chơi trúng 350.000 đồng. Tổng số tiền T đánh bạc trong ngày là 4.869.000 đồng, tiền hoa hồng được hưởng là 332.900 đồng.

Vũ Thị H nhận tiền ghi đề từ P và T là 18.787.000 đồng; số tiền H trả tiền trúng đề cho P và T là 20.350.000 đồng. Tổng số tiền H đánh bạc trong ngày là 39.137.000 đồng, H phải bù lỗ 2.751.900 đồng.

- Ngày 23/5/2018:

Nguyễn Thị Hoài P ghi đề theo 03 đài: Đài Đà Nẵng, Khánh Hòa, Miền Bắc, số tiền P ghi đề trong ngày là 19.059.000đ; người chơi trúng 9.100.000 đồng. Tổng số tiền P đánh bạc trong ngày là 28.159.000 đồng.

Chu Thành T ghi đề theo 03 đài: Đài Đà Nẵng, Khánh Hòa, Miền Bắc, số tiền T ghi đề trong ngày là 3.165.000đ, người chơi trúng 1.610.000đ. Tổng số tiền T đánh bạc trong ngày là 4.775.000 đồng.

Vũ Thị H nhận tịch đề của P và T, nhưng trong ngày này P và T chưa chuyển tiền cho H. Căn cứ vào số tiền ghi đề và số tiền người chơi trúng thì trong ngày này H đánh bạc với số tiền là 32.934.000 đồng.

Vật chứng thu giữ trong vụ án: Quá trình điều tra, truy tố đã thu giữ của Chu Thành T 02 điện thoại di động, 04 tờ giấy vở học sinh, 01 mảnh giấy hình chữ nhật, số tiền 1.250.000 đồng; thu giữ của Nguyễn Thị Hoài P 01 vở học sinh, 01 điện thoại di động, 02 mảnh giấy hình chữ nhật, số tiền 626.000 đồng; thu giữ của Vũ Thị H 07 tờ giấy học sinh, 03 điện thoại di động và số tiền 1.065.000 đồng.

Đối với địa điểm các bị cáo dùng để tổ chức đánh bạc: Tại kết luật định giá tài sản số 70/KL – HĐĐGTS ngày 08/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Krông Năng kết luận:

- 01 căn phòng của Vũ Thị H tại buôn Đ, xã Đ1, huyện K, diện tích 20m2, xây dựng năm 2004, kết cấu nhà xây cấp 4, tường xây gạch, mái lợp tôn, nền lát gạch men có giá trị là 2.911.201 đồng.

- 01 căn phòng của Chu Thành T tại buôn Đ, xã Đ1, huyện K, diện tích 25m2, xây dựng năm 2013, kết cấu nhà cấp 4, tường xây gạch + gỗ kết hợp, mái lợp tôn, nền láng xi măng, có giá trị là 13.901.472 đồng.

- 01 căn phòng của Nguyễn Thị Hoài P tại buôn Đ, xã Đ1, huyện K, diện tích 15m2, xây dựng năm 2014, kết cấu nhà tạm, tường xây gạch, mái lợp tôn, nền láng xi măng, có giá trị là 23.297.308 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 03/2019/HSST ngày 03/01/2019, của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo: Vũ Thị H, Nguyễn Thị Hoài P và Chu Thành T phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:

- Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt Thi hành án.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoài P 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt Thi hành án.

- Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Chu Thành T 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt Thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 35 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự: Tuyên phạt Vũ Thị H 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng); Chu Thành T 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng); Nguyễn Thị Hoài P 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về biện pháp tư pháp, về án phí và quyền kháng cáo cho các bị cáo và người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

Ngày 03 và 08/1/2019, ngày 14/01/2019 các bị cáo Chu Thành T, Vũ Thị H, Nguyễn Thị Hoài P có đơn kháng cáo với nội dung: Xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và cho rằng các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cảnh về hành vi phạm tội của mình đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội "Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp lý, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt bị cáo Vũ Thị H 01 năm 03 tháng tù, bị cáo Nguyễn Thị Hoài P 01 năm 03 tháng tù, bị cáo Chu Thành T 01 năm 02 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt các bị cáo là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, cấp sơ thẩm đã áp dụng đủ, đúng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo T không cung cấp thêm tài liệu nào mới, bị cáo H, bị cáo P cung cấp thêm tình tiết là gia đình các bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo H có Dì là người có công với cách mạng. Tuy nhiên, mức hình phạt cấp sơ thẩm xét xử đối với các bị cáo là phù hợp. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo H, P, T giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Các bị cáo không tranh luận gì chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.

Các bị cáo không bào chữa, tranh luận gì về hành vi phạm tội của mình và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Lời khai của các bị cáo, tại phiên toà phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Do ý thức coi thường pháp luật nên từ 20/5/2018 đến ngày 23/5/2018, tại Buôn Đ, xã Đ1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Thị Hoài P và Chu Thành T đã thực hiện hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi đề sau đó chuyển cho Vũ Thị H để hưởng hoa hồng:

Vũ Thị H đã 04 lần đánh bạc dưới hình thức ghi số đề, cụ thể: Ngày 20/5/2018 đánh bạc với số tiền 45.362.000 đồng; ngày 21/5/2018 đánh bạc với số tiền 31.191.000 đồng; ngày 22/5/2018 đánh bạc với số tiền 39.137.000 đồng; ngày 23/5/2018 đánh bạc với số tiền 32.934.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 12.586.700 đồng.

Nguyễn Thị Hoài P đã 04 lần đánh bạc dưới hình thức ghi số đề, cụ thể:

Ngày 20/5/2018 đánh bạc với số tiền 36.787.000 đồng; ngày 21/5/2018 đánh bạc với số tiền 22.519.000 đồng; ngày 22/5/2018 đánh bạc với số tiền 34.268.000 đồng; ngày 23/5/2018 đánh bạc với số tiền 28.519.000 đồng. Số tiền thu lợi bất chính là 3.004.000 đồng. Ngoài ra, sau khi trả tiền trúng đề cho người chơi số tiền còn lại mà P chưa chuyển cho H là 9.959.000 đồng.

Chu Thành T đã 02 lần đánh bạc dưới hình thức ghi số đề, cụ thể: Ngày 20/5/2018 đánh bạc với số tiền 8.575.000 đồng; ngày 21/5/2018 đánh bạc với số tiền 8.672.000 đồng. Ngoài ra, ngày 22/5/2018 T đánh bạc với số tiền 4.869.000 đồng; ngày 23/5/2018 đánh bạc số tiền 4.425.000 đồng. Số tiền T thu lợi bất chính là 1.119.300 đồng, sau khi trả tiền trúng đề cho người chơi số tiền còn lại mà T chưa chuyển cho H là 1.555.000 đồng.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Vũ Thị H 01 năm 03 tháng tù, bị cáo Nguyễn Thị Hoài P 01 năm 03 tháng tù, bị cáo Chu Thành T 01 năm 02 tháng tù là có phần nghiêm khắc so với tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra.

Cần phân tích hành vi của từng bị cáo:

- Đối với bị cáo T là người đánh bạc ít hơn hai bị cáo H và P, tại cơ quan điều tra cũng như tại Tòa án bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã nộp số tiền thu lợi bất chính. Tại Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nên giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Xét nhân thân bị cáo T trước đây từng đã bị xử lý về tội “Cướp tài sản” và tội “Chống người thi hành công vụ”. Tuy đã được xóa án tích, bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn phạm tội, kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo là không có căn cứ để chấp nhận.

- Đối với bị cáo H đánh bạc với số tiền lớn hơn bị cáo P và bị cáo T, nhưng bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại Tòa án cấp phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm tình tiết mới, Dì của bị cáo là người có công với cách mạng. Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo, chồng chết, một mình phải nuôi hai con còn nhỏ. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo là có căn cứ cần được chấp nhận.

- Đối với bị cáo P phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, bị cáo hiện nay đang mang thai tháng thứ 8, nuôi hai con còn nhỏ, gia đình thuộc hộ nghèo có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo là có căn cứ cần được chấp nhận.

[3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2019/HSST ngày 03/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng về phần hình phạt đối với các bị cáo.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Vũ Thị H, Nguyễn Thị Hoài P, Chu Thành T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c, e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo Chu Thành T.

Chấp nhận đơn kháng cáo của các bị cáo Vũ Thị H, Nguyễn Thị Hoài P.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 03/2019/HSST ngày 03/01/2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Năng về phần hình phạt.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015;

+ Xử phạt bị cáo Vũ Thị H 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; thời hạn cải tạo không giam giữ tình từ ngày UBND xã Đ1 nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS năm 2015;

+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hoài P 03 (ba) năm cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; thời hạn cải tạo không giam giữ tình từ ngày UBND xã Đ1 nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo H và bị cáo P về cho UBND xã Đ1, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục bị cáo trong thời giam cải tạo. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Vũ Thị H và bị cáo Nguyễn Thị Hoài P, do gia đình các bị cáo thuộc diện hộ nghèo.

- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Chu Thành T 11 (mười một) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt Thi hành án.

[2] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Vũ Thị H, Nguyễn Thị Hoài P và Chu Thành T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


107
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 112/2019/HSPT ngày 25/03/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:112/2019/HSPT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:25/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về