Bản án 112/2017/DS-PT ngày 14/08/2017 về tranh chấp hợp đồng góp hụi

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

BẢN ÁN 112/2017/DS-PT NGÀY 14/08/2017 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI

Ngày 14 tháng 8 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 108/2017/TLPT- DS ngày 30 tháng 6 năm 2017 về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2017/DS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 143/2017/QĐPT-DS ngày 17 tháng 7 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hồng L - sinh năm 1976 (Có mặt); Địa chỉ: Xã KBT, huyện TVT, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn O - sinh năm 1967

2. Bà Trần Mỹ X - sinh năm 1969

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn:

Ông Nguyễn Lê M - sinh năm 1975 (Có mặt) (Văn bản ủy quyền ngày 30 tháng 5 năm 2017) Ông Nguyễn Chí Đ - sinh năm 1993 (Có mặt) (Văn bản ủy quyền ngày 30 tháng 5 năm 2017) Cùng địa chỉ: Xã KBT, huyện TVT, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Bà Nguyễn Hồng L nguyên đơn; ông Nguyễn Văn O và bà Trần Mỹ X bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Nguyễn Hồng L trình bày: Ngày 10/01/2012 âm lịch, bà có mở 03 dây hụi hùn vốn, loại hụi 5.000.000 đồng, 06 tháng khui một lần, cụ thể;

- Dây hụi thứ nhất: 12 chưng, bà Trần Mỹ X tham gia 01 chưng, đã đóng 03 lần 7.700.000 đồng thì ngưng hụi.

- Dây hụi thứ hai: 12 chưng, bà X tham gia 01 chưng, lần khui đầu tiên, bà Xbỏ thăm 2.600.000 đồng và hốt được 23.900.000 đồng (đã trừ hoa hồng), đã giao hụi xong. Bà X đã đóng 02 lần thì ngưng đóng. Dây hụi này bà tiếp tục khui thêm 02 lần nữa (ngày 10/02/2014 âm lịch) thì bà tuyên bố ngưng hụi. Bà yêu cầu bà X phải thanh toán 09 lần hụi chết (đến khi mãn hụi) số tiền 45.000.000 đồng.

- Dây hụi thứ ba: 12 chưng, bà X tham gia 02 chưng:

+ Chưng thứ nhất: khui lần thứ 3 bà X bỏ thăm 2.100.000 đồng và hốt được 31.500.000 đồng (đã trừ hoa hồng), đã giao xong. Bà X đóng hụi chết 01 lần thì không đóng nữa. Chưng hụi này bà tiếp tục khui 02 lần nữa thì ngưng hụi. Bà yêu cầu bà X trả 09 lần hụi chết đến khi mãn là 45.000.000 đồng.

+ Chưng thứ hai: Bà X đóng được 03 lần 8.150.000 đồng thì ngưng hụi.

Ngày 10/8/2012 âm lịch, bà có mở thêm 02 dây hụi, loại 5.000.000 đồng, 06 tháng khui một lần:

- Dây hụi thứ tư: 11 chưng, bà X tham gia 01 chưng, đã đóng 02 lần với số tiền 5.150.000 đồng thì ngưng hụi.

- Dây hụi thứ năm: Có 10 chưng, bà X tham gia 01 chưng, khui lần thứ hai thì bà X bỏ thăm 2.300.000 đồng và hốt được 24.100.000 đồng (đã chung đủ ngày 10/8/2012 âm lịch), không đóng hụi chết lần nào. Tính đến ngày mãn hụi, bà X còn nợ 09 lần hụi chết 45.000.000 đồng.

Trong 05 dây hụi, bà X tham gia 06 chưng hụi, trong đó 03 chưng hụi bà X đã hốt và chưa đóng hụi chết tổng cộng 130.000.000 đồng, đối trừ 08 lần bà X đã đóng bà tự nguyện chấp nhận với số tiền 40.000.000 đồng. Bà yêu cầu bà Trần Mỹ X và chồng là ông Nguyễn Văn O phải trả cho bà 85.000.000 đồng (do tính toán nhầm 5.000.000 đồng).

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Trần Mỹ X và ông Nguyễn Văn O, ông Nguyễn Lê M trình bày: Về thời gian, số dây hụi, số chưng và loại hụi cũng như thời gian hốt hụi đúng như nguyên đơn trình bày, cụ thể:

- Dây hụi thứ nhất, bị đơn đã đóng 03 lần 7.700.000 đồng

- Dây hụi thứ hai, bị đơn đã hốt lần đầu được 23.900.000 đồng (đã trừ hoa hồng 2.500.000 đồng), đóng 02 lần hụi chết bằng 10.000.000 đồng.

- Dây hụi thứ ba, tham gia 02 chưng: Chưng thứ nhất, bị đơn đã đóng 03 lần hụi sống 8.150.000đ thì ngưng hụi; chưng thứ hai, khui lần thứ hai hốt được 31.500.000đ (đã trừ đầu thảo 2.500.000đ), đóng hụi chết 01 lần 5.000.000 đồng.

- Dây hụi thứ tư gồm 11 chưng bị đơn tham gia 01 chưng và đã đóng được 02 lần 5.700.000 đồng thì ngưng hụi.

- Dây hụi thứ năm gồm 10 chưng, bị đơn tham gia 01 chưng và khui lần thứ hai thì hốt được 24.100.000 đồng (đã trừ hoa hồng 2.500.000 đồng), không có đóng hụi chết lần nào.

Bị đơn đã hốt tổng cộng 03 chưng với số tiền 79.500.000 đồng; số tiền đóng lại hụi chết của 03 chưng là 15.000.000 đồng và 03 chưng hụi sống đã đóng 10 lần là 27.300.000 đồng. Tổng số tiền đóng hụi sống và chết 42.300.000 đồng. Đối trừ số tiền đã hốt và đóng, bị đơn chỉ đồng ý trả cho nguyên đơn 37.200.000 đồng.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2017/DS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời đã xử:

1. Về pháp luật áp dụng: Các Điều 26, 35, 39, 143, 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 471, Điều 474, Điều 305 Bộ luật dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/11/2006 về họ, hụi, biêu, phường; Pháp lệnh số 10/2009/PL–UBTVQH12 ngày 27/2/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

2. Về nội dung tranh chấp:

Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng L. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn O và bà Trần Mỹ X có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 69.120.000 đồng (Sáu mươi chín triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không tự nguyện thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo mức lãi suất phát sinh tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

Số tiền chênh lệch nguyên đơn không được chấp nhận là 15.880.000 đồng.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn O và bà Trần Mỹ X phải nộp 3.456.000 đồng. Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận là 794.000 đồng. Ngày 14/11/2016 nguyên đơn đã nộp tiền tạm ứng án phí 2.250.000 đồng theo biên lai thu số 0006383 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được chuyển thu đối trừ, nguyên đơn được nhận lại 1.456.000 đồng.

Ngày 01/6/2017 bà Nguyễn Hồng L có đơn kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm, lý do: Trong 06 chưng hụi bà X tham gia bà X đã hốt 03 chưng, bà X phải đóng hụi chết cho bà 130.000.000 đồng; 03 chưng hụi còn lại bà X tham gia và có đóng hụi chưa hốt bà đống ý đối trừ cho bà X 40.000.000 đồng, số tiền còn lại bà X phải trả cho bà 90.000.000 đồng.

Ngày 31/5/2017 bà Trần Mỹ X, ông Nguyễn Văn O có đơn kháng cáo, yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm, trong đó có xem xét lại thời hiệu khởi kiện; tính hợp pháp của hợp đồng góp hụi.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau:

Về tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và các đương sự đã chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.

Về nội dung, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn; đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thời hiệu khởi kiện: Việc nguyên đơn khởi kiện đòi bị đơn trả lại tiền hụi pháp luật không quy định về thời hiệu, việc bên bị đơn đặt ra yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi bị đơn trả tiền hụi là hết thời hiệu khởi kiện không có căn cứ chấp nhận.

[2] Về quan hệ pháp luật: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp Hợp đồng góp hụi. Các bên thừa nhận việc nguyên đơn mở hụi, các hụi viên tham gia góp hụi là sự tự nguyện, giao dịch này được pháp luật thừa nhận, pháp luật chỉ nghiêm cấm giao dịch này dưới hình thức cho vay nặng lãi. Do đó đây là giao dịch hụi nên áp dụng Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/11/2006 về họ, hụi, biêu, phường giải quyết tranh chấp giữa hai bên, không áp dụng quy định

Hợp đồng dân sự của Bộ luật Dân sự để giải quyết, vì vậy bên bị đơn đặt ra bà L vi phạm Hợp đồng góp hụi trong việc hợp đồng không có chứng thực của chính quyền địa phương, bà L để cho con bà L thừa kế trong hợp đồng, tự ý ngừng hụi nên yêu cầu tuyên bố giao dịch hụi giữa hai bên vô hiệu, hai bên hoàn trả tiền vốn cho nhau là không có căn cứ chấp nhận.

[3] Về nội dung tranh chấp:

Đối với 03 chưng hụi bị đơn chưa hốt, bị đơn đóng hụi tổng cộng 08 lần là đúng như trình bày của nguyên đơn, tại cấp sơ thẩm bị đơn thừa nhận (bút lục 29). Tuy nhiên, chỉ có dây hụi thứ 4 gồm 11 chưng (mở ngày 10/8/2012 âm lịch) là các bên không thống nhất với nhau số tiền đã đóng. Theo bị đơn đã đóng 02 lần với số tiền 5.700.000 đồng nhưng không giấy tờ chứng minh. Trong khi đó, nguyên đơn đã cung cấp danh sách theo dõi đóng hụi chứng minh bị đơn đóng 02 lần tổng cộng 5.150.000 đồng (bút lục 69) nên có căn cứ chấp nhận. Vậy số tiền bị đơn đã đóng hụi sống 08 lần tổng cộng 21.000.000 đồng (7.700.000 đồng + 8.150.000 đồng + 8.150.000 đồng). Nguyên đơn tự nguyện hoàn trả cho bị đơn 40.000.000 đồng (08 lần x 5.000.000 đồng). Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên được chấp nhận.

Đối với 03 chưng hụi bị đơn đã hốt, tại cấp sơ thẩm nguyên đơn xác định trong các dây hụi do các hụi viên đã hốt không đóng hụi chết, nguyên đơn hết khả năng tràng hụi nên tuyên bố ngừng hụi vào ngày 10/8/2014, theo quy định của pháp luật số tiền bị đơn hốt hụi của nguyên đơn chỉ được tính lãi, sau đó trừ đi số tiền bị đơn đã đóng hụi và tính lãi. Về phía bị đơn đã hốt hụi nhưng không đóng hụi chết cho bà L, cụ thể: Dây hụi thứ hai, bị đơn hốt 23.900.000 đồng vào ngày 10/02/2012 âm lịch (bút lục 11), bị đơn đã đóng 02 lần hụi chết thì ngưng. Dây hụi thứ ba, chưng thứ nhất bị đơn hốt 31.500.000 đồng vào ngày 10/8/2012 (bút lục 10), bị đơn đã đóng 01 lần hụi chết thì ngưng. Dây hụi thứ năm, bị đơn đã hốt 24.100.000 đồng vào ngày 10/02/2013 âm lịch (bút lục 9), bị đơn không đóng hụi chết lần nào. Án sơ thẩm giải quyết:

- Dây hụi bị đơn đã hốt số tiền 23.900.000 đồng vào ngày 10/02/2012 âm lịch (ngày 02/3/2012 dương lịch) tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 18/5/2017 là 62 tháng 16 ngày x 23.900.000 đồng x 1,125%/tháng = 16.812.000 đồng (tính số tròn)

- Dây hụi bị đơn đã hốt với số tiền 31.500.000 đồng vào ngày 10/8/2012 âm lịch (ngày 25/9/2012 dương lịch) tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 18/5/2017 là 55 tháng 23 ngày x 31.500.000 đồng x 1,125%/tháng = 19.763.493 đồng (tính số tròn).

- Dây hụi bị đơn đã hốt với số tiền 24.100.000 đồng vào ngày 10/02/2013 âm lịch (ngày 21/3/2013 dương lịch) tính đến ngày xét xử sơ thẩm ngày 18/5/2017 là 49 tháng 27 ngày x 24.100.000 đồng 1,125%/tháng = 13.529.000 đồng (tính số tròn)

Tổng cộng vốn và lãi của 03 chưng hụi này là 129.604.000 đồng (23.900.000 đồng + 16.812.000 đồng + 31.500.000 đồng + 19.763.493 đồng + 24.100.000 đồng + 13.529.000 đồng).

Đối với 03 chưng hụi trên, bị đơn đã đóng hụi chết 03 lần với số tiền 15.000.000 đồng được tính từ thời điểm nguyên đơn tuyên bố ngừng hụi ngày 10/8/2014 âm lịch (ngày 03/9/2014 dương lịch) đến ngày xét xử sơ thẩm 18/5/2017 là 32 tháng 15 ngày x 15.000.000 đồng x 1,125%/tháng = 5.484.000 đồng (tính số tròn). Tổng cộng vốn và lãi là 20.484.000 đồng.

Đối trừ số tiền bị đơn hốt hụi, đóng hụi, án sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng L, buộc bị đơn ông Nguyễn Văn O và bà Trần Mỹ X có nghĩa vụ hoàn lại cho nguyên đơn tổng cộng 69.120.000 đồng (129.604.000 đồng - 40.000.000 đồng - 20.484.000 đồng); số tiền chệnh lệch nguyên đơn không được chấp nhận là 15.880.000 đồng và các đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, cụ thể: bị đơn phải chịu 3.456.000 đồng; nguyên đơn phải chịu đối với yêu cầu không được chấp nhận là 794.000 đồng là có căn cứ.

Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn để giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[4] Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn nên các đương sự phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[5] Những quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết; có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; Pháp lệnh số 10/2009/PL–UBTVQH12 ngày 27/2/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Áp dụng Điều 471, Điều 474, Điều 305 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 144/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 27/11/2006 về họ, hụi, biêu, phường.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Hồng L nguyên đơn; ông Nguyễn Văn O và bà Trần Mỹ X bị đơn.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 36/2017/DS-ST ngày 18 tháng 5 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Hồng L. Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn O và bà Trần Mỹ X có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn số tiền 69.120.000 đồng (Sáu mươi chín triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không tự nguyện thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo mức lãi suất phát sinh tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thi hành án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.

Số tiền chệnh lệch nguyên đơn không được chấp nhận là 15.880.000 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn O và bà Trần Mỹ X phải nộp 3.456.000 đồng. Bà Nguyễn Hồng L phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận là 794.000 đồng. Ngày 14/11/2016 bà L đã nộp tiền tạm ứng án phí 2.250.000 đồng theo biên lai thu số 0006383 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện

Trần Văn Thời được chuyển thu đối trừ, bà L được nhận lại 1.456.000 đồng.

Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Hồng L phải chịu 300.000 đồng; ông Nguyễn Văn O và bà Trần Mỹ X phải chịu 300.000 đồng. Bà L đã dự nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu số 0007037 ngày 07/6/2017; ông O và bà X đã dự nộp 300.000 đồng tại Biên lai thu số 0007008 được chuyển thu.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết; có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


93
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về