Bản án 11/2021/HNGĐ-ST ngày 22/02/2021 về ly hôn

 TÒA ÁN NHÂN DÂN  HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 11/2021/HNGĐ-ST NGÀY 22/02/2021 VỀ LY HÔN

Ngày 22/02/2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2020/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2020 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 14/01/2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2021/QĐST - HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1958.

Địa chỉ: Thôn K, xã M, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.

2. Bị đơn: Bà Vũ Thị Đ1, sinh năm 1963.

Địa chỉ: Thôn 24, xã N, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

(Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có lý do, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 09/11/2020 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, Ông Nguyễn Văn Đ (nguyên đơn) trình bày:

1. Về hôn nhân: Tôi và cô Vũ Thị Đ1 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Mường Thanh (nay là phường Mường Thanh), huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) vào ngày 07/3/2000. Kết hôn tự nguyện. Vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến tháng 5/2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng, chúng tôi đã sống ly thân với nhau từ năm 2015 cho tới nay. Tôi xét thấy tình cảm của tôi với cô Đ1 không còn gì nữa. Vì vậy tôi làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giải quyết cho tôi được ly hôn với cô Đ1.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản: Tài sản riêng; Tài sản chung; Nợ phải trả; nợ lấy về; Diện tích đất ruộng nương: Không có.

Tòa án nhân dân huyện Điện Biên sau khi nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ vào ngày 09/11/2020 đã thụ lý vụ án số 56/TB-TLVA, ngày 09/11/2020 và tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho nguyên đơn, bị đơn. Tuy nhiên sau khi nhận thông báo thụ lý vụ án bà Vũ Thị Đ1 đã không có bản tự khai hay ý kiến bàng văn bản đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Đ.

Tại biên bản xác minh ngày 15/12/2020, chính quyền địa phương xã N, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên cung cấp như sau:

Ông Đ và bà Đ1 chung sống và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không ai bị ép buộc. Trong quá trình chung sống với nhau tại thôn 24, xã N, huyện Điện Biên ông Đ và bà Đ1 chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, quan điểm sống bất đồng. Tôi được biết ông Đ và bà Đ1 sống ly thân với nhau khoảng hơn 05 năm nay rồi.

Ông Đ và bà Đ1 không có con chung, không có con riêng.

Ngày 10/12/2020 Tòa án nhân dân huyện Điện Biên ban hành văn bản thông báo về phiên hợp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải so 56/TB-TA và đã tống đạt hợp lệ cho các đương sự, ông Đ và bà Đ1 có mặt, nhưng bà Đ1 từ chối ký vào biên bản phiên họp và biên bản hòa giải. Tòa án tiến hành mở phiên hòa giải lần thứ hai số 56/TB-TA ngày 05/01/2021, bà Đ1 vắng mặt tại phiên hòa giải không có lý do, Tòa án đã lập biên bản về sự vắng mặt của bà Đ1.

Ngày 14/01/2021 Tòa án nhân dân huyện Điện Biên ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2021/QĐXX - HNGĐ, phiên tòa được mở vào ngày 02/02/2021, tại phiên tòa bà Đ1 đã vắng mặt không có lý do, do vậy phiên tòa được mở lại vào hồi 08 giờ 00, ngày 22/02/2021 theo Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2021/QĐST-HNGĐ, ngày 02/02/2021.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký Tòa án và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án:

- Về hôn nhân: Căn cứ Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ, cho ông Đ được ly hôn với bà Đ1.

- Về con chung: Ông Đ và bà Đ1 không có con chung.

- Về quan hệ tài sản: Tài sản riêng, tài sản chung; nợ phải trả; nợ lấy về; Diện tích ruộng, nương: Không có.

- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14: Ông Đ là người cao tuổi và đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí. Đề nghị HĐXX miễn án phí DSST cho ông Nguyễn Văn Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, qua thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp về “Ly hôn” giữa ông Nguyễn Văn Đ và bà Vũ Thị Đ1 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên được quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 14/01/2021 Tòa án nhân dân huyện Điện Biên ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2021/QĐXX-HNGĐ, thời gian mở phiên tòa vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 02/02/2021 và tống đạt hợp lệ cho nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên tòa bà Vũ Thị Đ1 đã vắng mặt không có lý do. Tòa án nhân dân huyện Điện Biên ban hành Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2021/QĐST - HNGĐ ngày 02/02/2021 được mở lại vào hồi 08 giờ 00 phút, ngày 22/02/2021 và tống đạt hợp lệ cho các đương sự, trước khi mở phiên Tòa ông Nguyễn Văn ĐI có đơn xin xét xử vắng mặt, tại phiên tòa bà Vũ Thị ĐI vắng mặt lần thứ 2 không có lý do. Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông Đ và bà Đ1 được xây dựng trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn do vậy quan hệ hôn nhân giữa ông Đ và bà Đ1 là hợp pháp. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do quan điểm sống bất đồng, tính cách không hợp nhau, hai người đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay. Ông Đ xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc nên xin ly hôn. Tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất bà Đ1 tham gia và chứng kiến toàn bộ phiên họp và hòa giải, bà có ý kiến không đồng ý ly hôn, nhưng bà từ chối ký vào biên bản phiên họp và biên bản hòa giải. Tòa án đã mở phiên hòa giải thứ hai để phân tích, hòa giải hàn gắn hạnh phúc gia đình giữa ông Đ và bà Đ1, nhưng bà Đ1 đã vắng mặt tại phiên hòa giải không có lý do, ông Đ một mực cương quyết xin ly hôn, vì tình cảm giữa ông và bà Đ1 không còn nữa. Ngoài ra theo biên bản xác minh tình trạng hôn nhân giữa ông Đ và bà Đ1 tại chính quyền địa phương cũng đã xác nhận về tình trạng hôn nhân giữa hai người cũng đã có mâu thuẫn xảy ra, cả hai đã sống ly thân được hơn 05 năm. Hội đồng xét xử xét thấy ông Đ và bà Đ1 đã sống ly thân từ năm 2015 cho đến nay, trong thời gian ly thân đã không còn quan tâm, thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau nữa, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy HĐXX xét thấy nguyện vọng xin ly hôn của ông Đ là phù hợp với quy định tại điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Đ.

[2.2]. Về con chung: Ông Đ và bà Đ1 không có con chung.

[2.3]. Về tài sản: Tài sản riêng; Tài sản chung; Nợ phải trả; nợ lấy về; Diện tích ruộng, nương: Không có.

[2.4]. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14: Ông Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, nên ông Đ được miễn án phí DSST.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, 3 Điều 228; Khoản 1 Điều 235; 264 và 267 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Đ được ly hôn với bà Vũ Thị Đ1.

2. Về con chung: Không có.

3. Về tài sản: Tài sản riêng; Tài sản chung; Nợ phải trả; nợ lấy về; Diện tích đất ruộng nương: Không có.

4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14: Ông Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn nộp tiền tạm ứng án phí, nên ông Đ được miễn án phí DSST.

Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có lý do, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc bản án được niêm yết. 


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2021/HNGĐ-ST ngày 22/02/2021 về ly hôn

Số hiệu:11/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Điện Biên - Điện Biên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/02/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về