Bản án 11/2020/HS-ST ngày 20/01/2020 về tội bắt, giữ người trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 11/2020/HS-ST NGÀY 20/01/2020 VỀ TỘI BẮT, GIỮ NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

Ngày 20 tháng 01 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 150/2019/TLST-HS ngày 23 tháng 12 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2020, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyn Văn M; sinh ngày 14/01/1985, tại tỉnh Lâm Đồng;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường L, xã L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú tại: đường L, Phường 2, Tp. B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1931 (đã chết năm 2017) và bà Phạm Thị S, sinh năm 1943, cư trú tại: Tổ 13, Khu phố 6, thị trấn M, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; vợ: Chu Thị Bích U, sinh năm 1987; con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2019, cả bốn cùng cư trú tại: đường L, Phường 2, Tp. B, tỉnh Lâm Đồng; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 04/6/2014 bị Công an Tp. B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, mức phạt 1.500.000 đồng, đã nộp phạt vào ngày 06/6/2014.

Bị cáo bị bắt và tạm giam tại Nhà tạm gi - Công an Tp. B, tỉnh Lâm Đồng từ ngày 06/9/2019 cho đến nay. Có mặt.

2. Họ và tên: Lê Hữu T, tên gọi khác: không; sinh ngày 02/04/1964, tại tỉnh Lâm Đồng;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường Q, Thôn 3, xã Đ, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: đường P, Phường 1, Tp. B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: Bảo vệ; con ông Lê H u T1, sinh năm 1927 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1947 (cả hai đã chết); vợ: Trần Thị Ng, sinh năm 1964 (đã ly hôn năm 2001); con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 1992, cả ba cùng cư trú tại: Phường 1, Tp. B, tỉnh Lâm Đồng; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2013 bị Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/9/2014, đóng án phí xong tháng 04/2014.

Bị cáo bị bắt và tạm giam tại Nhà tạm gi - Công an Tp. B từ ngày 06/9/2019 cho đến nay. Có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Việt H, tên gọi khác là K; sinh ngày: 15/02/1999, tại tỉnh Lâm Đồng;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: đường P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Viết Nh, sinh năm 1973 và bà Trương Thị N, sinh năm 1976, cả hai cư trú tại: đường P, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt và tạm giam tại Nhà tạm gi Công an Tp. B, tỉnh Lâm Đồng từ ngày 06/9/2019 cho đến nay. Có mặt.

4. Họ và tên: Nguyễn Thành H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 02/4/1995, tại Lâm Đồng;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 4, xã Liêng Srônh, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: đường N, Phường 1, Tp. B, tỉnh Lâm Đồng; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 08/12; nghề nghiệp: Không; con ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1967 và bà Trần Thị Kim Q, sinh năm 1969, cả hai cư trú tại: Thôn 4, xã L, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt và tạm giam tại Nhà tạm gi Công an Tp. B từ ngày 06/9/2019 cho đến nay. Có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1968; địa chỉ: Số nhà 882/2/1 đường T, xã L, Tp. B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Trần Thị Yến V, sinh năm 1957; địa chỉ: Số nhà 938/3 đường T, xã L, Tp. B, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 06/2019, Nguyễn Văn M đến nhà bà Trần Thị Yến V (tên gọi khác là V. K, sinh năm 1957, nơi cư trú: Số nhà 938/8 đường T, xã L, Tp. B, tỉnh Lâm Đồng để viếng đám ma thì được bà V cho biết: “Vợ chồng ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1968, nơi cư trú: thôn T, xã L, Tp. B có mượn số tiền 817.000.000 đồng, đến nay vẫn chưa trả”, M nói với bà V là sẽ đòi nợ giúp thì bà V đồng ý.

Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 11/8/2019, khi Nguyễn Thành H, Nguyễn Việt H (tên gọi khác K) và Đ (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đang cùng ở phòng trọ tại số 1/2/31 đường N, Phường 1, Tp. B thì nhận được điện thoại của Nguyễn Văn M rủ đi công việc thì tất cả đồng ý và cả ba đi đến nhà M thuê ở tại số nhà 68 đường L, Phường 2, Tp. B. Trước khi đi, M mang theo 01 cuộn băng keo màu vàng, 02 con dao tự chế, 02 cây tuýp sắt và giấy, bút bỏ lên xe ô tô 07 chỗ, nhãn hiệu Fortuner, màu bạc, biển số 49A-150.41, xe mượn của ông Trần Công H, sinh năm 1960, địa chỉ: Số nhà 60 đường L, Phường 2, Tp. B, tỉnh Lâm Đồng.

Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, M điều khiển xe ô tô chở H, H, Đ và Lê H u T (là nhân viên bảo vệ tại cửa hàng do M buôn bán tại nhà thuê) đi ra đường Q hướng về xã L, Tp. B. Khi đi đến trước cửa hàng xe máy T thì thấy T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đang đi bộ nên M dừng xe và rủ T1 đi cùng. Sau đó, M điều khiển xe đến chòi vườn cà phê tại khu vực gần núi xà B, thuộc thôn T, xã L, Tp. B của ông Nguyễn Xuân T. Khi tới nơi, M đi vào trước, Đ, H, H và T cầm dao, tuýp sắt đi theo sau. Trông thấy ông T, M hỏi: “Mày có phải T không?” thì ông T nói: “phải”. M đi vào và nói chuyện với ông T về số nợ 817.000.000 đồng của bà V. K. T cầm tuýt sắt đứng ở cửa, H, H mỗi người cầm một tuýp sắt và Đ cầm 01 con dao đứng xung quang người ông T, ông T thừa nhận là vợ chồng ông có mượn và còn nợ số tiền trên.

Sau đó, M đưa ra 01 tờ giấy yêu cầu ông T viết giấy nhận nợ, đồng thời bắt ông T phải gọi điện cho vợ ông T để lấy số chứng minh nhân dân hai vợ chồng để ghi vào giấy nhận nợ. Quá trình bắt ông T ký giấy nhận nợ thì M cầm 01 con dao và kề dao vào cổ ông T để hù dọa, không nói cho vợ ông T biết việc đang diễn ra tại đây.

Sau khi viết giấy nhận nợ xong, Đ và H khống chế đưa ông T lên xe ôtô để đi về nhà thuê của M. Trên đường đi, M yêu cầu Đ lấy cuộn băng keo màu vàng đưa cho H để H bịt mắt, bịt miệng ông T để ông T không nhận diện được nhóm của M.

Khi về đến nhà của M ở địa chỉ số nhà 68 đường L, P, Tp. B, tỉnh Lâm Đồng thì M đi lên lầu 2 trước, còn Đ, H và H dẫn ông T lên sau, T ngồi dưới nhà làm nhiệm vụ bảo vệ. Tại căn phòng trên tầng 2, M yêu cầu H tháo băng keo cho ông T, lấy ghế cho ông T ngồi. Sau đó, M lấy điện thoại gọi điện cho bà VK để ông T xác nhận số nợ với bà V và lấy giấy, bút ra cho ông T viết giấy nhận nợ. Quá trình ông T viết giấy nhận nợ thì M yêu cầu H kề dao vào cổ ông T. Sau khi ông T viết xong giấy nhận nợ thì M dùng tay tát 02 cái vào má và đạp 02 cái vào ngực ông T rồi dùng băng keo bịt mắt, bịt miệng và trói tay, trói chân ông T vào ghế để ông T không đi đâu được. Sau đó, Đ, H và H đi về.

Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, M và T dùng ô tô chở ông T về nhà ông T tại thôn TV, xã L, Tp. B, tỉnh Lâm Đồng.

Bản Cáo trạng số 03/CT-VKSBL, ngày 18 tháng 12 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo Nguyễn Văn M, Lê H u T, Nguyễn Việt H và Nguyễn Thành H về tội “Bắt, gi người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

+ Đại diện Viện kiểm sát gi quyền công tố luận tội và tranh luận: Gi nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Nguyễn Văn M, Lê H u T, Nguyễn Việt H và Nguyễn Thành H về tội “Bắt, gi người trái pháp luật”.

Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 24 đến 30 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê H u T từ 15 đến 18 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H từ 15 đến 18 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H từ 15 đến 18 tháng tù.

Về bồi thường thiệt hại: Bị hại ông Nguyễn Xuân T không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh sắt vuông dài 70cm, một đầu quấn cao su đen; hai thanh sắt tròn dài 70cm, một đầu quấn cao su đen; 01 quần jean nam màu xanh, nhãn hiệu Lee; 01 áo thun ba lỗ màu đen có ghi ch Stayinsprired; 01 áo khoác nam màu đen, nhãn hiệu MR-T; 01 đôi giày thể thao màu trắng-đỏ-đen có ghi dòng ch Focus; 01 cuộn băng keo dính màu vàng lõi giấy, băng keo có bản rộng 05cm; 01 đoạn băng keo dính màu vàng, băng keo có bản rộng 05cm, chiều dài 52cm; 01 mũ lưỡi trai màu đen phía bên trong mũ có dòng ch lan sơn; 01 cái ghế xoay màu xám; 01 quần jean nam màu đen hiệu T&P; 01 áo thun cổ tròn màu xám-trắng; 01 quần kaki màu xám hiệu collection; 01 áo sơ mi nam màu xanh, bên trong có ghi dòng ch Phúc tài; 01 áo khoác nam màu đen sọc vàng, hiệu Wenkesprots.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu gold, số seri: C7JNG2JZG5MF; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen có dòng ch Model TA-1114 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen có dòng ch Model: TA-1034.

Trả lại cho bị cáo Lê H u T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng hồng có dòng ch Model A 1533 và trả lại cho bị cáo Nguyễn Việt H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng-bạc có số seri FTHSH1DRGRWJ nhưng tiếp tục tạm gi để đảm bảo thi hành án.

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

+ Các bị cáo M, T, H và H khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng. Bị cáo T, H và H và không có tranh luận, đối đáp gì với Kiểm sát viên. Bị cáo M cho rằng Kiểm sát viên luận tội và đề nghị mức án đối với bị cáo là quá nặng.

+ Bị cáo M nói lời sau cùng: Nhận thức hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ với gia đình và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo T, H, H vì bị cáo là người rủ rê nh ng người này.

+ Bị cáo T nói lời sau cùng: Nhận thức hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo M vì bị cáo M có con còn nhỏ mới sinh năm 2019 và là lao động chính trong gia đình.

+ Bị cáo H nói lời sau cùng: Nhận thức hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

+ Bị cáo H nói lời sau cùng: Nhận thức hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn M, Lê H u T, Nguyễn Việt H và Nguyễn Thành H đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; lời khai của bị hại; lời khai của nh ng người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự qui định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.

Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 11/8/2019, Nguyễn Văn M, Lê H u T, Nguyễn Việt H và Nguyễn Thành H đến chòi canh cà phê của ông Nguyễn Xuân T tại xã Lộc Châu, Tp. B, tỉnh lâm Đồng để đòi nợ. M, T, H và H đã bắt ông T cho lên xe ô tô và lấy băng keo trói tay, bịt mắt, dán miệng để chở về và gi tại nhà của M tại địa chỉ số nhà 68 đường L, Phường 2, Tp. B, tỉnh Lâm Đồng từ khoảng 18 giờ 00 phút đến 22 giờ 00 phút cùng ngày để ép ông T viết giấy nhận nợ.

Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Bắt, gi người trái pháp luật”, tội phạm và hình phạt được qui định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 03/CT-VKSBL, ngày 18 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Lâm Đồng truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 157 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của con người. Điều 20 Hiến pháp năm 2013 qui định: “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”. Các bị cáo là nh ng người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc bắt, gi người trái pháp luật bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường pháp luật nên đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Các bị cáo thực hiện tội phạm là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân:

Đối với bị cáo Nguyễn Văn M: Ngày 04/6/2014 bị Công an Tp. B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc, mức phạt 1.500.000 đồng, đã nộp phạt vào ngày 06/6/2014.

Đối với bị cáo Lê H u T: Năm 2013 bị Tòa án nhân dân thành phố B xử phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 02/9/2014, đóng án phí xong tháng 04/2014.

Đối với các bị cáo Nguyễn Việt H, Nguyễn Thành H đều chưa có tiền án, tiền sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo M, H và H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, cho các bị cáo M, H và H được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[7] Vụ án có đồng phạm nên cần xem xét tính chất, mức độ, vai trò của từng bị cáo như sau:

Đối với bị cáo Nguyễn Văn M là người chủ mưu, cầm đầu, rủ rê các bị cáo T, H và H, là người chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội như xe ô tô, dao, tuýp sắt, băng keo, giấy, bút và là người trực tiếp thực hiện tội phạm một cách quyết liệt đến cùng, bị cáo có nhân thân không tốt nên tính chất, mức độ, vai trò và hình phạt của bị cáo M phải cao hơn nhiều các bị cáo T, H và H.

Đối với bị cáo Lê H u T là người giúp sức cho bị cáo M và trực tiếp thực hiện tội phạm đến cùng, ngoài ra bị cáo T có nhân thân không tốt nên tính chất, mức độ, vai trò và hình phạt của bị cáo T thấp hơn nhiều so với bị cáo M nhưng phải cao hơn các bị cáo H và H.

Đối với các bị cáo Nguyễn Việt H và Nguyễn Thành H là nh ng người giúp sức cho M trực tiếp thực hiện tội phạm nên tính chất, mức độ, vai trò của hai bị cáo bằng nhau, mang vai trò thứ yếu nên hình phạt thấp hơn bị cáo T, thấp hơn nhiều so với bị cáo M và ngang bằng nhau.

[8] Căn cứ vào qui định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam gi trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

[9] Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra bị hại ông Nguyễn Xuân T không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý như sau:

+ Tài sản thu gi của Nguyễn Văn M gồm: 01 thanh sắt vuông dài 70cm, một đầu quấn cao su đen; hai thanh sắt tròn dài 70cm, một đầu quấn cao su đen và 01 cái ghế xoay màu xám. Đây là công cụ phạm tội nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 quần jean nam màu xanh, nhãn hiệu Lee; 01 áo thun ba lỗ màu đen có ghi ch Stayinsprired; 01 áo khoác nam màu đen, nhãn hiệu MR-T; 01 đôi giày thể thao màu trắng-đỏ-đen có ghi chứ Focus; 01 cuộn băng keo dính màu vàng lõi giấy, băng keo có bản rộng 05cm; 01 cuộn băng keo dính màu vàng, băng keo có bản rộng 05cm, chiều dài 52cm; 01 mũ lưỡi trai màu đen phía bên trong mũ có dòng ch lan sơn. Đây là tài sản riêng của bị cáo M, tại phiên tòa bị cáo không có nhu cầu sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu gold, số seri: C7JNG2JZG5MF. Đây là tài sản của bị cáo liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

+ Tài sản thu gi của Lê H u T, gồm: 01 quần jean nam màu đen hiệu T&P; 01 áo thun cổ tròn màu xám-trắng; 01 quần kaki màu xám hiệu collection; 01 áo sơ mi nam màu xanh, bên trong có ghi dòng ch Phúc tài; 01 áo khoác nam màu đen sọc vàng, hiệu Wenkesprots. Đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo khai không có nhu cầu sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng hồng có dòng ch Model A 1533. Đây là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm gi để đảm bảo thi hành án.

+ Tài sản thu gi của Nguyễn Việt H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen có dòng ch Model: TA-1034. Đây là tài sản của bị cáo liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng-bạc có số seri FTHSH1DRGRWJ. Đây là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm gi để đảm bảo thi hành án.

[11] Các vấn đề khác:

Đối với đối tượng tên Đ và T1 là người cùng tham gia với M trong việc bắt, gi ông Nguyễn Xuân T. Tuy nhiên, quá trình điều tra, chưa xác minh được nhân thân, lai lịch của các đối tượng này. Do đó, tách ra tiếp tục xác minh và xử lý sau.

Đối với bà Trần Thị Yến V đồng ý để M đòi nợ hộ. Tuy nhiên, bà V không biết việc M đã có hành vi bắt, gi ông T để ép ông T viết giấy nhận nợ. Do đó, không xem xét trách nhiệm hình sự đối với hành vi của bà V.

Đối với hành vi của ông Trần Công H cho bị cáo M mượn xe ô tô nhãn hiệu Fortuner, biển số 49A-150.41, lúc cho mượn ông H không biết bị cáo M sử dụng xe vào việc phạm tội nên không xem xét trách nhiệm hình sự đối với ông H.

Đối với hành vi đe dọa, đập phá tài sản của Nguyễn Văn M theo nội dung đơn tố giác của bà Võ Thị A, bà Nguyễn Thị Bích H và ông Bùi Quang N hiện chưa đủ căn cứ để xử lý đối với hành vi này của M. Do đó, tách ra tiếp tục xác minh và xử lý sau.

[12] Xét đề nghị và luận tội của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận một phần về hình phạt.

[13] Về chi phí tố tụng: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về ... án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

[14] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M, Lê H u T, Nguyễn Việt H và Nguyễn Thành H phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

2. Về hình phạt:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17; Điều 38 và điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2019.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17; Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lê Hữu T 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2019.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17; Điều 38 và điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H, tên gọi khác K 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2019.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 157; Điều 17, Điều 38 và điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06/9/2019.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu gold, số seri: C7JNG2JZG5MF; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen có dòng ch Model TA-1114 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen có dòng ch Model: TA-1034.

Tịch thu tiêu hủy: 01 thanh sắt vuông dài 70cm, một đầu quấn cao su đen; hai thanh sắt tròn dài 70cm, một đầu quấn cao su đen và 01 cái ghế xoay màu xám; 01 quần jean nam màu xanh, nhãn hiệu Lee; 01 áo thun ba lỗ màu đen có ghi ch Stayinsprired; 01 áo khoác nam màu đen, nhãn hiệu MR-T; 01 đôi giày thể thao màu trắng-đỏ-đen có ghi chứ Focus; 01 cuộn băng keo dính màu vàng lõi giấy, băng keo có bản rộng 05cm; 01 cuộn băng keo dính màu vàng, băng keo có bản rộng 05cm, chiều dài 52cm; 01 mũ lưỡi trai màu đen phía bên trong mũ có dòng ch lan sơn; 01 quần jean nam màu đen hiệu T&P; 01 áo thun cổ tròn màu xám-trắng; 01 quần kaki màu xám hiệu collection; 01 áo sơ mi nam màu xanh, bên trong có ghi dòng ch Phúc tài; 01 áo khoác nam màu đen sọc vàng, hiệu Wenkesprots.

Trả lại cho bị cáo Lê H u T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5S màu trắng hồng có dòng ch Model A 1533 và trả lại cho bị cáo Nguyễn Việt H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng-bạc có số seri FTHSH1DRGRWJ nhưng tiếp tục tạm gi để đảm bảo thi hành án. Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng gi a cơ quan Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh Lâm Đồng ngày 20/12/2019.

4. Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn M, Lê H u T, Nguyễn Việt H và Nguyễn Thành H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kê từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


7
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2020/HS-ST ngày 20/01/2020 về tội bắt, giữ người trái pháp luật

Số hiệu:11/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Bảo Lộc - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:20/01/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về