Bản án 11/2020/HSST ngày 16/04/2020 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 11/2020/HSST NGÀY 16/04/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 16 tháng 4 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2020/HSST ngày 04/3/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn C, sinh năm 1976; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: M; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi ĐKHKTT: khóm A, thị trấn T, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp; Chỗ ở: như trên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn T, sinh năm: không rõ (chết); Họ tên mẹ: Trần Thị A, sinh năm 1935 (chết); Có 04 anh chị em, bị cáo nhỏ nhất; Tiền sự: 01 tiền sự, ngày 28/6/2019, Nguyễn Tấn C bị Công an thị trấn T, huyện Cao Lãnh xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; Tiền án: Không; Nhân thân: năm 1996, bị TAND huyện Cao Lãnh xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân; năm 2001, UBND tỉnh Đồng Tháp quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi trộm cắp tài sản của Công dân; năm 2006 UBND tỉnh Đồng Tháp quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng; năm 2009, UBND tỉnh Đồng Tháp quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục 21 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng; năm 2011 UBND tỉnh Đồng Tháp quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục 12 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng; năm 2013 UBND tỉnh Đồng Tháp quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục 15 tháng về hành vi gây rối trật tự công cộng; năm 2015 TAND huyện Cao Lãnh quyết định đưa vào Cơ sở giáo dục 24 tháng về hành vi Trộm cắp tài sản; Tạm giữ, tạm giam: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người bị hại:

- Trần Văn B, sinh năm 1967 (vắng mặt).

- Phạm Văn P, sinh năm 1972 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: khóm A, thị trấn T, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Trần Mộng T, sinh năm 1975 (vắng mặt).

Đa chỉ: ấp A, xã B, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

* Người làm chứng:

- Nguyễn Thị M, sinh năm 1960 (vắng mặt).

Đa chỉ: khóm A, thị trấn T, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Nguyễn Thanh S, sinh năm 1988 (có mặt).

Đa chỉ: ấp C, xã D, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Nguyễn Trinh T, sinh năm 1957 (vắng mặt).

Đa chỉ: ấp C, xã D, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/6/2019, Nguyễn Tấn C bị Công an thị trấn T, huyện Cao Lãnh xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo C chưa đóng phạt nhưng tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của nhiều người khác, cụ thể:

Ln 1: Khoảng 12 giờ 50 phút ngày 15/10/2019, Nguyễn Tấn C đến nhà ông Trần Văn B tại khóm A, thị trấn T mở cửa rào (cửa không khóa) vào kho gạo phía sau nhà ông B lấy trộm 01 bao gạo loại 50 kg hiệu 6976- Đông Xuân mang cất giấu tại bụi cỏ ven đường cách nhà ông B khoảng 50m, bà Nguyễn Thị M là người sinh sống kế bên kho ông B phát hiện nên báo ông B đến lấy lại bao gạo đem về nhà.

Ln 2: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/10/2019, bị cáo C tiếp tục leo qua hàng rào vào kho gạo của ông B lấy trộm 01 bao gạo 50 kg hiệu 6976- Đông Xuân mang đi khoảng 05m thì bị ông B phát hiện báo công an thị trấn T đến lập biên bản phạm tội quả tang thu giữ 01 bao gạo loại 50 kg hiệu 6976- Đông Xuân để phục vụ điều tra. Sau khi định giá đã trả lại cho ông B.

Tại Kết luận định giá tài sản số 134 ngày 25/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cao Lãnh, kết luận: gạo 6976 - Đông Xuân là 12.000 đồng/ 01 kg, giá trị 100 kg x 12.000 đồng = 1.200.000 đồng.

Ln 3: Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12/11/2019, C đến khu vực bán gạo của chợ M, thị trấn T, huyện Cao Lãnh dùng bật lửa đốt bao đựng gạo tạo thành một lổ và dùng bọc xốp mang theo hứng 24,5 kg gạo thơm Nàng Hoa của chị Trần Mộng T thì bị anh Nguyễn Thanh S là nhân viên Ban quản lý chợ phát hiện báo Công an thị trấn T đến lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ: 24, 5 kg gạo và 01 bật lửa màu xanh. Sau khi định giá, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T 24,5 kg gạo Nàng Hoa và chị không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại Kết luận định giá tài sản số 135 ngày 25/11/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cao Lãnh, kết luận: gạo Nàng Hoa là 13.000 đồng/ 01 kg, giá trị 24,5 kg x 13.000 đồng = 318.500 đồng.

Ln 4: Khoảng 01 giờ ngày 27/11/2019, C đi bộ ngang nhà số 151, thị trấn T thấy nhà đang sửa chữa, cửa không khóa nên C đi vào khu vực nhà vệ sinh lấy trộm 01 máy khoan hiệu Maktec màu đỏ và 01 máy cắt gạch hiệu Sencan màu đỏ của anh Phạm Văn P đem về nhà cất giấu. Đến 07 giờ sáng cùng ngày anh P báo mất tài sản nên Công an thị trấn T nghi vấn và mời bị cáo C làm việc, C thừa nhận lấy tài sản của anh P và giao nộp 01 máy khoan hiệu Maktec màu đỏ và 01 máy cắt gạch hiệu Sencan màu đỏ. Sau khi định giá Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản và anh P không yêu cầu bồi thường gì khác.

Tại Kết luận định giá tài sản số 02 ngày 14/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cao Lãnh, kết luận: 01 máy khoan màu đỏ hiệu Maktec 220V ~ 24A trị giá 780.000 đồng; 01 máy cắt gạch màu đỏ hiệu Sencan 541002 Angle grinder Sim- KỲ-100 220V~ 50Hz 650W n 1000/min 100 mn M10 Made in China trị giá 600.000 đồng, tổng trị giá 1.380.000 đồng.

Lần 5: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 01/12/2019, bị cáo C tiếp tục trèo qua hàng rào nhà ông Trần Văn B lấy 01 bao gạo 50kg hiệu 6976 - Đông Xuân mang về nhà, bị cáo C bán cho một người phụ nữ không rõ lai lịch 23 kg gạo được 160.000 đồng, còn lại 27 kg gạo đến 09 giờ 30 phút cùng ngày C giao nộp cho Công an thị trấn T.

Tại Kết luận định giá tài sản số 03 ngày 14/01/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cao Lãnh, kết luận: gạo 6976 là 12.000 đồng/ 01 kg, giá trị 50 kg x 12.000 đồng = 600.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông B 27 kg gạo 6976, 23kg gạo bị mất ông B không yêu cầu C bồi thường.

Tại cáo trạng số 12/CT-VKS ngày 02/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Tấn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” .

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn C với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đề nghị Tòa tuyên như phần quyết định của bản Cáo trạng đã nêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Tấn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã nêu. Ngày 28/6/2019, bị cáo C bị công an thị trấn T xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (chưa nộp phạt). Trong khoảng thời gian từ 15/10/2019 đến 01/12/2019, bị cáo C nhiều lần lén lút lấy trộm tài sản của nhiều bị hại, gồm Trần Văn B 150 kg gạo hiệu 6976 trị giá 1.800.000 đồng; Trần Mộng T 24,5 kg gạo Nàng Hoa trị giá 318.500 đồng; Phạm Văn P 01 máy khoan và 01 máy cắt gạch trị giá 1.380.000 đồng, tổng giá trị tài sản 3.498.500 đồng nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của những người bị hại, những người làm chứng, cùng với vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo C là có tội, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại điểm a khoản 1 Điều 173 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.

b)…

Bị cáo Nguyễn Tấn C là đối tượng từng vi phạm pháp luật, phải nghe phán xét của pháp luật và lĩnh án. Ngoài ra vào ngày 28/6/2019, bị cáo Nguyễn Tấn C đã bị Công an thị trấn T, huyện Cao Lãnh xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Đáng lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân, tôn trọng pháp luật, sống lương thiện có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, bị cáo không làm được như vậy mà lại tiếp tục vi phạm pháp luật. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã thành niên, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo thừa biết hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, phải chịu chế tài nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động, bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của những người bị hại một cách trái phép. Hành vi của bị cáo C là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách liều lĩnh, thực hiện vào ban ngày mà không sợ bị phát hiện chứng tỏ bị cáo rất xem thường và bất chấp pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo đã thực hiện hoàn thành tội phạm. Bị cáo thực hiện tội phạm vì động cơ tư lợi với lỗi cố ý. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của bị cáo gây ra. Xét thấy, việc cách ly bị cáo C ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Do bị cáo C là người đã có tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản, nay lại tiếp tục phạm tội nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Tấn C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã giao nộp lại tài sản để trả lại bị hại. Về nhân thân, bị cáo xuất thân là thành phần nhân dân lao động. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. nhận.

Xét thấy lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, tài sản bị mất trộm đã thu hồi trả cho những người bị hại xong. Những người bị hại Trần Văn B, Phạm Văn P, Trần Mộng T không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm bất cứ khoản nào khác phù hợp theo quy định của pháp luật nên không đặt vấn đề giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Đối với cái bật lửa màu xanh là công cụ dùng vào việc phạm tội, xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn C phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Tấn C 02 (hai) năm tù tội "Trộm cắp tài sản"; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt.

Về trách nhiệm dân sự: Đã được giải quyết xong.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Điều 47 Bộ luật hình năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tch thu tiêu hủy: 01 cái bật lửa màu xanh

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1, Điều 21 và khoản 1, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Tấn C phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, những người bị hại có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Đi với những người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án văn hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2020/HSST ngày 16/04/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:11/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Cao Lãnh - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/04/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về