Bản án 11/2020/HSST ngày 15/05/2020 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN LƯƠNG - TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 11/2020/HSST NGÀY 15/05/2020 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 15 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiên Luơng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 12/2020/TLST-HS, ngày 15 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Trần Vĩnh Ng, sinh năm 1990; Nơi sinh: huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang; Chỗ ở hiện nay: không nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Con ông Trần Vĩnh Th, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T, không rõ năm sinh; Anh chị em ruột: 03 người, lớn nhất không rõ năm sinh, nhỏ nhất sinh năm 1990;

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 16/12/2014 bị xử phạt vi phạm hành chính theo Quyết định số 44/QĐ-XPVPHC của Công an huyện Kiên Lương phạt tiền 750.000đ về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Đến ngày 12/02/2015 chấp hành xong quyết định.

Ngày 16/10/2019 thực hiện hành vi cố ý gây thương tích. Đến ngày 18/02/2020 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K khởi tố vụ án và bị tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Anh Danh Thanh L, sinh năm 1990, có mặt.

Địa chỉ: Tổ 08, khu phố L, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn D (Tên gọi khác: D đầu bò), sinh năm 1984, vắng mặt.

Đa chỉ: Tổ 04, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

2. Anh Nguyễn Hoàng H – sinh năm 1984, vắng mặt Địa chỉ: Tổ 15, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 16/10/2019 Trần Vĩnh Ng đi bộ đến khu vực chợ gà thuộc tổ 15, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Tại đây, Ng nhìn thấy Nguyễn Văn D và Danh Thanh L đang đứng mua bắp xào (do có quen biết với D, Ng nhìn và cười với D), D nói với Ng “cấp này mày xạo lắm rồi”, Ng trả lời “em xạo từ đó giờ”, D nói lớn tiếng “mày nói gì con chó” và xông đến định đánh Ng, Ng bỏ chạy và thách thức rủ D đánh nhau. D và L rượt đuổi định đánh Ng, Ng chạy vào nhà bà Trần Thanh Th (tên gọi khác T, người quen với Ng) ở gần đó lẫn trốn. Khoảng 10 phút sau Ng đi bộ ra tiệm tạp hoá ở gần nhà bà Th để mua bia, khi đi Ng vào bếp nhà bà Th lấy một con dao giấu trong người để phòng thân. Nếu bị D đánh, Ng sẽ lấy dao chống trả. Lúc đến tiệm tạp hoá Ng thấy D và L nên bỏ chạy, L rượt đuổi theo Ng và cầm nón bảo hiểm định đánh Ng nhưng không trúng, Ng chạy được một đoạn đến phía trước tiệm bánh mì Quyên thuộc tổ 15, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang thì dừng lại lấy dao chém 02 (hai) nhát về phía L gây thương tích. Sau đó Ng bỏ chạy, còn L được người dân đưa đến bệnh viện cấp cứu.

* Vật chứng thu được:

- 01 (một) cây dao dài 30cm, phần cán dao bằng nhựa màu đen dài 11,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại sắc, bén, màu trắng sáng dài 18,5cm, chiều rộng dao 8cm, có dính nhiều vết nâu đỏ (nghi là máu), đã qua sử dụng.

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 60/KL-PY ngày 16/01/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang, kết luận thương tích đối với Danh Thanh L như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo xơ cứng vùng thái dương – đỉnh trái và cẳng tay trái.

- Đứt (nứt) sọ thái dương – đỉnh trái 2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 29% (hai mươi chín phần trăm).

Ti bản cáo trạng số: 10/CT-VKSKL ngày 14/4/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Trần Vĩnh Ng về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự (BLHS). Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện Kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Vĩnh Ng phạm tội “Cố ý gây thương tích” và áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS; điểm s khoản 1, 2 điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù. Ngoài ra đề nghị về xử lý vật chứng vụ án và trách nhiệm dân sự buộc bị cáo phải bồi thường chi phí điều trị thuốc men và mất thu nhập cho bị hại theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị báo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận vào khoảng 21 giờ ngày 16/10/2019, do mâu thuẫn cự cải với Nguyễn Văn D, Danh Thanh L. Danh Thanh L rượt đuổi Ng và dùng nón bảo hiểm đánh Ng nhưng không trúng. Trần Vĩnh Ng đã dùng dao thủ sẵn trong người chém 02 (hai) nhát vào Danh Thanh L gây thương tích tại trước tiệm bánh mì Quyên thuộc tổ 15, khu phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Hậu quả L bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 29% (hai mươi chín phần trăm).

Li khai của bị cáo đã hoàn toàn phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra và những người tham gia tố tụng khác. Do đó, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Vĩnh Ng phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

[3] Xét hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo là hoàn toàn trái pháp luật và nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khoẻ của bị hại. Bị cáo hoàn toàn nhận thức được con dao có lưỡi bằng kim loại là hung khí nguy hiểm khi tác động mạnh vào cơ thể sẽ gây hại đến sức khoẻ thậm chí là tính mạng con người nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi sử dụng hung khí nguy hiểm và đã gây thương tích cho anh L, tỷ lệ tổn thương cơ thể là 29% (hai mươi chín phần trăm). Ngoài ra, bị cáo còn là người có nhân thân xấu đã 01 lần bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Do đó, cần có một mức án nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo biết ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, bị hại cũng có một phần lỗi và tại phiên toà bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy, cần áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo.

[5] Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây dao dài 30cm, phần cán dao bằng nhựa màu đen dài 11,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại sắc, bén, màu trắng sáng dài 18,5cm, chiều rộng dao 8cm, có dính nhiều vết nâu đỏ (nghi là máu), đã qua sử dụng.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên bị hại L khai điều trị tại trung tâm y tế huyện K 01 ngày đóng tiền hết 1.000.000đ, sau đó bị hại về nhà tự điều trị bằng cách đi mua thuốc ngoài tiệm thuốc tây hết 15 ngày mỗi ngày mấy chục ngàn đồng và tiền mất thu nhập trong thời gian điều trị theo bị hại khai mất 90 ngày công lao động mỗi ngày 350.000đ (bị hại làm thợ chính xây dựng), tổng cộng hai khoản gồm chi phí điều trị thuốc men, mất thu nhập là 32.5000.000đ là quá cao so với mức thiệt hại của bị hại. Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của bị hại do bị hại điều trị vết thương trong 15 ngày và sau đó bị hại dưỡng sức khoẻ trong vòng 15 ngày là có thể phục hồi sức khoẻ và đi làm lại bình thường. Do đó, chi phí điều trị thương tích cụ thể: tiền thuốc điều trị trong 15 ngày mỗi ngày 50.000đ là 750.000đ, tiền đóng tại trung trâm y tế huyện K 1.000.000đ và tiền mất thu nhập trong 30 ngày công lao động mỗi ngày 350.000đ là 10.500.000đ, tổng cộng bị cáo phải bồi thường cho bị hại chi phí điều trị thuốc men và mất thu nhập là 12.250.000đ.

Đi với hành vi của Nguyễn Văn D và Danh Thanh L công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D và L số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) về hành vi “gây mất trật tự ở khu dân cư” được quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ. Ngày 26/02/2020 Danh Thanh L đã thực hiện xong việc nộp phạt.

Về án phí: Buộc bị cáo Trần Vĩnh Ng chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ và án phí dân sự là 612.500đ.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1/ Tuyên bố bị cáo Trần Vĩnh Ng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

- Xử phạt bị cáo Trần Vĩnh Ng 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành án kể từ ngày bị bắt tạm giữ tạm giam ngày 18/02/2020. 2/ Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây dao dài 30cm, phần cán dao bằng nhựa màu đen dài 11,5cm, phần lưỡi dao bằng kim loại sắc, bén, màu trắng sáng dài 18,5cm, chiều rộng dao 8cm, có dính nhiều vết nâu đỏ (nghi là máu), đã qua sử dụng. Giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện K tổ chức tiêu huỷ vật chứng nêu trên.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 590 Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số: 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08/7/2006 của Hội đồng Thẩm phán toà án nhân dân tối cao.

Buộc bị cáo phải bồi thường chi phí điều trị thuốc men, mất thu nhập số tiền 12.250.000đ cho bị hại Danh Thanh L.

4/ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Trần Vĩnh Ng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ và án phí dân sự sơ thẩm là 612.500đ.

5. Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (15/5/2020).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a, b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.


13
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về