Bản án 11/2020/HNGĐ-ST ngày 13/05/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 11/2020/HNGĐ- ST NGÀY 13/05/2020 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 13/5/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2020/TLST-HNGĐ ngày 24/02/2020 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 4 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ph, sinh năm 1995 Địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện X, tỉnh Thái Bình

2. Bị đơn: Anh Trần Cao S, sinh năm 1990 Nơi ĐKHKTT: Thôn H, xã B, huyện X, tỉnh Thái Bình.

Hiện đang chấp hành án tại đội *, phân trại số *, trại giam Thanh Phong. Địa chỉ: phường *, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện xin ly hôn, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Bùi Thị Ph trình bày: Chị và anh Trần Cao S tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V ( nay là xã T) huyện X vào ngày 17/9/2012. Sau khi kết hôn anh chị chung sống tại thôn H, xã B, huyện X đến năm 2016 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S nghiện ma túy, không chịu khó lao động, thường xuyên yều cầu chị phải đưa tiền mua ma túy để sử dụng, nếu chị không đáp ứng thì anh S có hành vi bạo lực với chị. Ngày 02/10/2019 anh S bị Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương xử phạt 01 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Từ khi anh S đi chấp hành án tại trại giam Thanh Phong chị không vào thăm, anh S có liên lạc với chị nhưng chỉ để giục chị gửi tiền. Chị xác định chung sống với anh S không có hạnh phúc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn.

Về con chung: Chị và anh S có hai con chung là Trần Hoàng L, sinh ngày 23/9/2012 và Trần Minh Kh, sinh ngày 05/02/2015. Do anh S nghiện ma túy, lại đang chấp hành án nên chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. không yêu cầu anh S góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Chị làm lao động tự do thu nhập khoảng 4.000.000 đồng/ tháng. Cháu L có nguyện vọng được ở với chị P khi anh, chị ly hôn.

Về tài sản và nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai ngày 03/4/2020 và ngày 16/4/2020 anh S trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn nhưng chưa đến mức trầm trọng, năm 2019 anh bị Tòa án xử phạt 01 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Từ khi anh đi chấp hành án chị P không liên lạc cũng không thăm nom anh, nay chị P xác định không còn tình cảm với anh và xin ly hôn, anh đồng ý.

Về con chung: Anh và chị P có hai con chung như chị P khai, anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng một con chung, việc cấp dưỡng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về tài sản và nợ chung không có, anh đề nghị vắng mặt tại phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và tại phiên tòa. Kết quả xác minh tại UBND xã M, huyện X thể hiện: Sau khi kết hôn anh S và chị P chung sống cùng với bố mẹ đẻ chị P là ông Bùi Văn L và bà Nguyễn Thị L, quá trình chung sống hạnh phúc, khoảng 2-3 năm gần đây phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh S nghiện ma túy, không chịu khó lao động. Anh S và chị P có hai con chung là Trần Hoàng L, sinh ngày 23/9/2012 và Trần Minh Kh, sinh ngày 05/02/2015, hiện đang ở với chị P. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương phát biểu quan điểm:

Thẩm phán, HĐXX và Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các điều 70,71,72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng các điều 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị P được ly hôn anh S; giao cả hai con chung cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị P về việc không yêu cầu anh S góp tiền cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Chị Bùi Thị Ph khởi kiện xin ly hôn anh Trần Cao S có nơi cư trú tại xã M, huyện X nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa là đúng với quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Bị đơn anh Trần Cao S có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

[4] Về quan hệ hôn nhân: Chị P và anh S tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V ( nay là xã T) huyện Kiến Xương vào ngày 17/9/2012 - là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Do anh S nghiện ma túy, sống không có trách nhiệm với gia đình nên phát sinh mâu thuẫn, anh S nhất trí với yêu cầu ly hôn của chị P. Điều này cho thấy, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu của chị P, quan điểm của Kiểm sát viên, xử cho chị được ly hôn anh S là phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[5] Về con chung: Nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng một con chung của anh S là chính đáng, tuy nhiên xét thấy hiện nay anh đang chấp hành án nên chưa có điều kiện trực tiếp chăm sóc, giáo dục các con, nên để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chung, cần giao cả hai con chung Trần Hoàng L, sinh ngày 23/9/2012 và Trần Minh Kh, sinh ngày 05/02/2015 cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại các điều 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận sự tự nguyện của chị P về việc không yêu cầu anh S góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, mức cấp dưỡng nuôi con khi cần thiết.

[6] Về tài sản và nợ chung: Các đương sự đều khai không có.

[7] Về án phí: Chị Bùi Thị Ph phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và S dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng các điều 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình.

- Áp dụng khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và S dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Ph được ly hôn anh Trần Cao S.

2.Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị Ph được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung là Trần Hoàng L, sinh ngày 23/9/2012 và Trần Minh Kh, sinh ngày 05/02/2015. Ghi nhận sự tự nguyện của chị P về việc không yêu cầu anh S góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Anh S có quyền thăm nom con chung.

3.Về tài sản và nợ chung: Không có.

4.Về án phí: Chị Bùi Thị Ph phải chịu 300.000 ( Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chuyển số tiền 300.000 ( Ba trăm nghìn) đồng chị P đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001539 ngày 24/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương thành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Ph có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Cao S vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2020/HNGĐ-ST ngày 13/05/2020 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:11/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kiến Xương - Thái Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:13/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về