Bản án 11/2020/HNGĐ-ST ngày 05/06/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 11/2020/HNGĐ-ST NGÀY 05/06/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 05 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 677/2019/TLST-HNGĐ ngày 11/11/2019, về việc: “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2020, quyết định hoãn phiên tòa số 10/2020/QĐST-HNGĐ ngày 08/5/2020 giữa các đương sự:

 *Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L - sinh năm 1986 (Có mặt) Địa chỉ: Thôn 3, xã H, huyện H1, tỉnh Bình Thuận.

*Bị đơn: Anh Dương Văn T – Sinh năm 1984 (Vắng mặt) Địa chỉ: Thôn 3, xã H, huyện H1, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 18/11/2019 cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày: Chị và anh Dương Văn T tự tìm hiểu yêu thương nhau và sống chung vợ chồng năm 2004 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H1, tỉnh Bình Thuận. Sau khi kết hôn, anh chị sống tại nhà riêng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do không cùng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, anh T thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn đánh đập vợ con vô cớ, chị đã tha thứ nhiều lần nhưng anh T vẫn tính nào trật đó. Chị không còn quan hệ tình cảm từ đầu năm 2019 cho đến nay, Nay mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nữa đề nghị ly hôn với anh Dương Văn T.Về con: vợ chồng có 02 con tên Dương Thị Diễm K sinh ngày 22/4/2005 và Dương Nguyễn Quốc T2 – sinh ngày 10/11/2008. Khi ly hôn chị xin được nuôi con tên Dương Thị Diễm K sinh ngày 22/4/2005, anh T nuôi cháu Dương Nguyễn Quốc T2 – sinh ngày 10/11/2008 và không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai, tài sản và nợ không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn anh Dương Văn T vắng mặt không trình bày gì.

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án đã nhiều lần tổ chức phiên hòa giải để các bên đương sự tự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng anh Dương Văn T vắng mặt nên các bên đương sự không tự thỏa thuận được. Các đương sự đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định: Sự vắng mặt của anh Dương Văn T không thuộc trường hợp phải hoãn phiên tòa, anh T đã được Tòa án giao các văn bản tố tụng nhưng không nhận chứng tỏ anh đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng, không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật, Tòa án đã thực hiện việc giao và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Dương Văn T.

1.Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/4/2020 đã ghi quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con”, qua thẩm tra tài liệu chứng cứ và các đương sự xác định yêu cầu của mình tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng đây là “Tranh chấp về ly hôn, nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có địa chỉ tại xã H, huyện H1, tỉnh Bình Thuận nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc có thẩm quyền giải quyết.

2. Về yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử phân như sau: Theo lời khai của chị Nguyễn Thị L và các tài liệu có tại hồ sơ thì chị L và anh Dương Văn T sống chung vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H nên là hôn nhân hợp pháp. Chị Nguyễn Thị L khai nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn vợ chồng là do anh anh Dương Văn T thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn đánh đập vợ con vô cớ, chị đã tha thứ nhiều lần nhưng anh T vẫn tính nào trật đó. Từ nguyên nhân trong cuộc sống vợ chồng nêu trên thì Hội đồng xét xử thấy rằng tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị L và anh Dương Văn T trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L.

3. Về con chung: Chị Nguyễn Thị L khai phù hợp các tài liệu có tại hồ sơ là vợ chồng có 02 con tên Dương Thị Diễm K sinh ngày 22/4/2005 và Dương Nguyễn Quốc T2 – sinh ngày 10/11/2008. Khi ly hôn chị Nguyễn Thị L xin được nuôi con tên Dương Thị Diễm K sinh ngày 22/4/2005 và không yêu cầu cấp dưỡng. Xét thấy việc chị Nguyễn Thị L yêu cầu được tiếp tục nuôi con phù hợp quy định của pháp luật nên giao con tên Dương Thị Diễm K sinh ngày 22/4/2005 cho chị nuôi dưỡng, còn cháu Dương Nguyễn Quốc T2 – sinh ngày 10/11/2008 giao cho anh Dương Văn T nuôi. Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản và nợ: Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xem xét.

5. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chị Nguyễn Thị L là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Dương Văn T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

 1. Áp dụng:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 3 Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điều 9, Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Điểm a khoản 5 và điểm b khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L với anh Dương Văn T. Chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Dương Văn T.

- Về con chung: Giao cháu Dương Thị Diễm K - sinh ngày 22/4/2005 cho chị Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Dương Nguyễn Quốc T2 – sinh ngày 10/11/2008 cho anh Dương Văn T nuôi dưỡng. Anh Dương Văn T và chị Nguyễn Thị L có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Dương Văn T và chị Nguyễn Thị L không phải cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí, lệ phí: Chị Nguyễn Thị L là nguyên đơn phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị L đã nộp đủ 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0028808 ngày 11/12/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận nên không phải nộp nữa.

Anh Dương Văn T không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh Dương Văn T vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại địa phương.


10
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2020/HNGĐ-ST ngày 05/06/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:11/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Thuận Bắc - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:05/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về