Bản án 11/2019/KDTM-ST ngày 15/10/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

A ÁN NHÂN N HUYỆN THU NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 11/2019/KDTM-ST NGÀY 15/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

Ngày 15 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 11/2019/TLST-KDTM ngày 04 tháng 3 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2019/QĐXXST-KDTM ngày 05 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 37/2019/QĐST-KDTM, ngày 08 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q (tên viết tắt là VIB); địa chỉ trụ sở chính: Tầng 01 (tầng trệt) và tầng 02 Tòa nhà Sailing Tower, số 111A Pasteur, phường B, quận 01, thành phố H.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Văn L, chức vụ - Cán bộ Ngân hàng TMCP Q (theo Giấy ủy quyền số 3.0666.19 ngày 06/3/2019); Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị T; Nơi cư trú: Xóm 7, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng; Ông S có mặt, bà T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 20/02/2019, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa nguyên đơn là Ngân hàng thương mại cổ phần Q do người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Năm 2011 vợ chồng ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị T vay vốn tại Ngân hàng TMCP Q – Phòng giao dịch T theo Hợp đồng tín dụng số: 940/HĐTD1-VIB32/11 ngày 11/10/2011 số tiền vay là 350.000.000 đồng, mục đích vay là mua máy xay đá phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đá vật liệu xây dựng, thời hạn vay là 60 tháng, phương án trả nợ là trả nợ gốc 03 tháng một lần, mỗi lần trả 17.500.000 đồng, thời hạn trả gốc cụ thể sẽ được quy định tại khế ước nhận nợ số 940/KƯNN1-VIB32/11 ngày 13/10/2011. Để đảm bảo cho các khoản vay trên vợ chồng ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T dùng tài sản là quyền sử dụng 277m2 đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 966A, tờ bản đồ số 04, tại thôn 7, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH689591 do Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 27/9/2011 cho chủ sử dụng là ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị T, tài sản trên đã được các bên giao kết theo Hợp đồng thế chấp số 940/2011/BĐ ngày 12/10/2011, số công chứng 7243.CNV/2011.TCQSDĐ-TS, quyển số 04.AP.TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng An Phát, thành phố Hải Phòng. Sau khi thủ tục vay vốn đã đầy đủ ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T đã nhận đủ số tiền vay là 350.000.000đ, trong quá trình thực hiện hợp đồng ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng nên toàn bộ khoản vay trên bị chuyển nợ quá hạn từ ngày 02/5/2012. Tổng dư nợ của ông S, bà T tính đến ngày 15/10/2019 là 878.376.370 đồng, trong đó nợ gốc là 315.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 131.882.868 đồng; nợ lãi quá hạn là 432.020.065 đồng. Nay Ngân hàng VIB đề nghị Tòa án giải quyết buộc ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị T phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ trên và tiền lãi phát sinh theo mức tính lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 16/10/2019 cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp ông S, bà T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hải Phòng phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo nội dung Hợp đồng thế chấp mà hai bên ký kết.

Tại bản tự khai ngày 14/3/2019 , các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa bị đơn ông Vũ Văn S và Nguyễn Thị T thống nhất trình bày:

Năm 2011 vợ chồng ông, bà có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thương mại cổ phần Q – Chi nhánh Hải Phòng để vay số tiền 350.000.000 đồng, mục đích là bổ sung vốn kinh doanh, thời hạn vay là 60 tháng, lãi suất cho vay theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, vợ chồng ông đã được Ngân hàng giải ngân và nhận đủ số tiền 350.000.000 đồng. Để đảm bảo cho các khoản vay trên vợ chồng ông đã thế chấp tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng 277m2 đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 966A, tờ bản đồ số 04, tại thôn 7, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng chủ sử dụng mang tên vợ chồng ông Vũ Văn S và vợ Nguyễn Thị T. Quá trình thực hiện hợp đồng vợ chồng ông đã trả được cho Ngân hàng được số tiền gốc là 35.000.0000 đồng và tiền lãi theo quy định của hợp đồng tín dụng, do điều kiện làm ăn khó khăn nên khi hết hạn hợp đồng vợ chồng ông, bà không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, phía Ngân hàng đã nhiều lần gặp trực tiếp vợ chồng ông, bà để đôn đốc nợ nhưng vì làm ăn quá khó khăn, vợ chồng ông không thực hiện được ngay nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông phải trả toàn bộ số tiền còn nợ tính đến ngày xét xử tổng số là: 878.092.933 đồng, trong đó nợ gốc là 315.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 131.882.868 đồng; nợ lãi quá hạn là 432.020.065 đồng. Tại phiên tòa ông Vũ Văn S trình bày do vợ ông bà Nguyễn Thị T đang điều trị bệnh sau phẫu thuật nên không đến phiên tòa được, vợ chồng ông thống nhất quan điểm đồng ý nhận trách nhiệm trả nợ toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng, nếu vợ chồng ông không trả được nợ ông S đồng ý phát mại toàn bộ tài sản thế chấp, song vì điều kiện khó khăn ông S đề nghị Ngân hàng cho vợ chồng ông trả dần số tiền gốc từ 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ và xin miễn một phần tiền lãi.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và về việc giải quyết vụ án như sau: Thm phán, Hội đồng xét xử đã đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn ông Vũ Văn S đã chấp hành đúng quy định của pháp luật, bà T chưa thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tại Điều 70, Điều 73 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 30, 35, 39, 147, Điều 227, 228 Bộ Luật tố tụng dân sự; Điểm c Khoản 1 Điều 688, Khoản 1 Điều 466, Điều 299, Điều 317, 318, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 324 của Bộ luật Dân sự và Điều 90, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị T phải trả toàn bộ số tiền còn nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q và tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng. Nếu ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T không trả được nợ thì nguyên đơn có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát mại tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp mà các bên đã ký kết;

Về án phí, do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T phải nộp án phí theo quy định của pháp luật, trả lại nguyên đơn Ngân hàng VIB số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo quy định của pháp luật. giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Bị đơn bà Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị T.

[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Đây là vụ án kinh doanh thương mại tranh chấp về hợp đồng tín dụng đã ký giữa các đương sự theo quy định tại Khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3]. Về nội dung:

Ngân hàng thương mại cổ phần Q yêu cầu vợ chồng ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 15/10/2019 tổng bằng là 878.092.933 đồng, trong đó nợ gốc là 315.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 131.882.868 đồng; nợ lãi quá hạn là 432.020.065 đồng. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn là ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị T thừa nhận có ký hợp đồng tín dụng số: 940/HĐTD1-VIB32/11 ngày 11/10/2011 vay là 350.000.000 đồng, mục đích vay là mua máy xay đá phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh đá vật liệu xây dựng, thời hạn vay là 60 tháng, phương án trả nợ là trả nợ gốc 03 tháng một lần, mỗi lần trả 17.500.000 đồng, thời hạn trả gốc cụ thể sẽ được quy định tại khế ước nhận nợ số 940/KUNN1-VIB32/11 ngày 13/10/2011. Tại phiên tòa ông Vũ Văn S đồng ý nhận trách nhiệm trả nợ toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng, nếu vợ chồng ông không trả được nợ ông S đồng ý phát mại toàn bộ tài sản thế chấp, song vì điều kiện khó khăn ông S đề nghị Ngân hàng cho vợ chồng ông trả dần số tiền gốc từ 5.000.000 đồng cho đến khi hết nợ và xin miễn một phần tiền lãi, đại diện Ngân hàng VIB không đồng ý với quan điểm của ông S và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ pháp luật để giải quyết vụ án.

Căn cứ vào hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, chứng minh việc vợ chồng ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T có vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần Q số tiền là 350.000.000đồng với mục đích kinh doanh máy xay đá, thời hạn vay 60 tháng. Hội đồng xét xử, xét thấy: Các bên tham gia hợp đồng có đủ năng lực hành vi dân sự, việc ký kết các hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ là hoàn toàn tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung và mục đích để thực hiện nhu cầu của mỗi bên, không vi phạm điều cấm của Luật và không trái đạo đức xã hội. Trong quá trình thực hiện hợp đồng Ngân hàng thương mại cổ phần Q – Chi nhánh Hải Phòng đã giải ngân đủ số tiền vay theo hợp đồng tín dụng đã ký, vợ chồng ông S, bà T đã nhận đủ số tiền vay. Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, việc vợ chồng ông S, bà T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán trả nợ cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ do các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc vợ chồng ông S, bà T phải thanh toán số tiền nợ tính đến ngày 15/10/2019 bằng 878.092.933 đồng, trong đó nợ gốc là 315.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 131.882.868 đồng; nợ lãi quá hạn là 432.020.065 đồng và tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng.

[4]. Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng trong trường hợp ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ:

Xét hợp đồng thế chấp số 940/2011/BĐ ngày 12/10/2011, số công chứng: 7243.CNV/2011.TCQSDĐ-TS; quyển số 04.AP.TP/CC-SCC/HĐGD, tài sản bảo đảm cho món vay là quyền sử dụng 277m2 đt và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 966A, tờ bản đồ số 04, tại thôn 7, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH689591 do Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 27/9/2011 cho chủ sử dụng là ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị T. Hội đồng xét xử, xét: Hợp đồng thế chấp tài sản được ký giữa chủ tài sản là ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T với đại diện Ngân hàng Thương mại cổ phần Q – Chi nhánh H, việc ký kết hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ vào ngày 17/4/2019 toàn bộ tài sản đã thế chấp theo Hợp đồng thế chấp đến nay vẫn giữ nguyên hiện trạng không có gì thay đổi, toàn bộ tài sản trên đất do vợ chồng ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T làm nên các con không có công sức đóng góp gì. Do vậy, trường hợp ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hải Phòng phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp pháp luật.

[5]. Về áp dụng pháp luật: Các hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp được các bên ký kết và thực hiện tại thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực pháp luật và Luật các tổ chức tín dụng. Hợp đồng này đang được thực hiện có nội dung và hình thức phù hợp với Bộ luật dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 688 của Bộ luật dân sự để áp dụng Bộ luật Dân sự và Luật các tổ chức tín dụng giải quyết vụ án.

[6]. Về nghĩa vụ chịu án phí, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được chấp nhận nên ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 8.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tai biên lai thu tiền số 0000386, ngày 04/3/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hải Phòng.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 30, Điều 35, Điều 147, Khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điểm b Khoản 1 Điều 688, Điều 466, Điều 299, Điều 317, 318, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323, Điều 324 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Q buộc ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền tính đến ngày 15/10/2019 bằng 878.092.933 đồng, trong đó nợ gốc là 315.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 131.882.868 đồng; nợ lãi quá hạn là 432.020.065 đồng tại Hợp đồng tín dụng số: 940/HĐTD1-VIB32/11 ngày 11/10/2011.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, ông Vũ Văn S, bà Nguyễn Thị T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị T không trả nợ hoặc trả không hết nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q có quyền yêu cầu Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố Hải Phòng phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ: Quyền sử dụng 277m2 đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại địa chỉ thửa đất số 966A, tờ bản đồ số 04, tại thôn 7, xã A, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BH689591 do Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng cấp ngày 27/9/2011 cho ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị T, tài sản trên đã được các bên giao kết theo Hợp đồng thế chấp số 940/2011/BĐ ngày 12/10/2011, số công chứng 7243.CNV/2011.TCQSDĐ-TS, quyển số 04.AP.TP/CC-SCC/HĐGD tại Văn phòng công chứng An Phát, thành phố Hải Phòng.

3. Về án phí: Ông Vũ Văn S và bà Nguyễn Thị T có nghĩa vụ nộp án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 38.342.787 đồng. Trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q số tiền 8.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0000386 ngày 04/3/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


151
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/KDTM-ST ngày 15/10/2019 về tranh chấp hợp đồng tín dụng

Số hiệu:11/2019/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 15/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về