Bản án 11/2019/HSST ngày 23/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA 

BẢN ÁN 11/2019/HSST NGÀY 23/01/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 23 tháng 1 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2019/HSST ngày 9 tháng 1 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 9/2019/QĐXXST-HS ngày 11/1/2019 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1990 tại Khánh Hòa

Trú tại: Tổ dân phố NH, thị xã Ninh Hòa, T. Khánh Hòa

Nghề nghiệp: Lao động tự do

Trình độ học vấn: 6/12

Con ông Trần Văn Xót (chết)

Con bà Huỳnh Thị Sơn

- Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Th

Trú tại: Tổ dân phố 1, N, thị xã Ninh Hòa, T Khánh Hòa. Vắng mặt

* Người làm chứng:

- Anh Phạm Thái D, sinh năm 1975

Trú tại: Thôn V 1, xã V, thành phố Nha Trang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 24/8/2018, trong khi tuần tra tại khu vực thuộc thôn Văn Đăng 1, xã Vĩnh Lương, thành phố Nha Trang, tổ công tác gồm Bộ đội biên phòng Vĩnh Lương và Công an xã Vĩnh Lương phát hiện Trần Văn T và Nguyễn Văn Th có dấu hiệu nghi vấn về ma túy nên yêu cầu xuất trình giấy tờ tùy thân.

Tại đây, T tự lấy trong túi quần bên phải phía trước 1 gói nylon bên trong có chất bột màu trắng giao nộp cho tổ công tác. T khai nhận đó là ma túy của T mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành niêm phong, thu giữ.

Khoảng 8 giờ 30 cùng, Trần Văn T gọi điện rủ Nguyễn Văn Th góp tiền đi mua ma túy. Th đồng ý và đưa cho T 100.000 đồng. T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79H1-664.46 chở Th đến khu vực Lầu 7, phường Vĩnh Phước, thành phố Nha Trang tồi gọi điện cho Út (chưa xác định được nhân thân lai lịch) hỏi mua ma túy.Út đồng ý và nói T đứng đợi. Một lúc sau có một nam Th niên đem một gói ma túy đến giao cho T với giá 1.500.000 đồng. Sau khi có ma túy, Th chở T đi về hướng Ninh Hòa để tìm nơi sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số 434/GĐTP/2018 ngày 27/8/2018 của Phòng kỹ thuận hình sự Công an T Khánh Hòa xác định: “Chất bột trong mẫu ký hiệu A gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng là 0,8909 gam là (loại) ma túy Heroin.

Tại bản cáo trạng số 302/CT-VKS ngày 1/11/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015

Tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Nha Trang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo từ 1 năm đến 1 năm 6 tháng tù.

- Về vật chứng: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật

- Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Xét thấy việc vắng mặt của đương sự không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án theo thủ tục chung.

2]. Về hành vi, quyết định của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong giai đoạn điều tra, truy tố là có tính khách quan và hợp pháp.

3]. Về nội dung: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Văn T khai nhận toàn bộ nội dung sự việc như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp nội dung Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL4-5), với bản Kết luận giám định (BL10), với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (BL 32-36) và người làm chứng (BL 37-41) và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Việc bị cáo có hành vi tàng trữ trong người 0,8909 gam (loại) ma túy Heroin với mục đích sử dụng cho bản thân đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của nhà nước, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người khởi xướng, chuẩn bị phương tiện và rủ Th đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Do đó cần phải xử phạt nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

4]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo.

Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Văn T vẫn khẳng định, bị cáo không biết họ tên, nơi cư trú và không nhớ số điện thoại của đối tượng tên Út đã bán ma túy cho mình. Bị cáo cũng không biết bất cứ thông tin gì về địa chỉ, số điện thoại và biển số xe của đối tượng đã giao ma túy cho mình, bị cáo không biết bất cứ thông tin gì về những đối tượng này.

Đối với Nguyễn Văn Th, người góp tiền mua ma túy cùng với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo vẫn xác định, bị cáo là người rủ và chở Th đi mua ma túy, Th đồng ý và đưa cho bị cáo 100.000 đồng để góp tiền mua ma túy sử dụng chung, bị cáo bỏ ra 1.400.000 đồng. Tòa án đã trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang điều tra, xác minh làm rõ đối tượng tên Út, người bán ma túy cho T để làm rõ có hay không hành vi của Út cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, điều tra xác minh làm rõ có hay không hành vi của Nguyễn Văn Th cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm với T, nhưng đến nay Viện kiểm sát và Công an thành phố Nha Trang vẫn chưa làm rõ được. Do đó, Hội đồng xét xử đề nghị Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ đối với đối tượng đã bán ma túy cho Trần Văn T, tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ đối với hành vi góp tiền mua ma túy với T của Nguyễn Văn Th; nếu có đủ cơ sở thì xử lý trong một vụ án hình sự khác. 

5]. Về vật chứng vụ án:

Xét 1 phong bì giấy được niêm phong kín là vật chứa vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Mastel, vỏ màu đỏ - đen, sử dụng số thuê bao 01662906790, xét là công cụ, phương tiện phạm tội nên tuyên tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với chiếc xe máy hiệu Exceiter màu đen – trắng, biển kiểm soát 79H1- 664.46: Tại phiên tòa, bị cáo khai sau khi mua ma túy, bị cáo cùng Th đi về hướng Ninh Hòa, đến thôn Văn Đăng 1, xã Vĩnh Lương thì dừng xe, đi xuống để tìm nơi sử dụng thì bị bắt nên xét thấy không cần thiết phải tịch thu sung quỹ nhà nước đối với chiếc xe này, Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo.

6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

* Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T 1 (một) năm 6 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

+ Tịch thu tiêu hủy 1 phong bì giấy được niêm phong kín., mặt trước ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định ký hiệu A: 0,7436g- Vụ 434/GĐTP/2018”, mặt sau có chữ ký niêm phong của Nguyễn Khắc Huy, Nguyễn Hoàng Quang Anh và hình con dấu của Phòng kỹ thuật hình sự công an T Khánh Hòa.

+Tich thu sung quỹ nhà nước: 1 điện thoại di động hiệu Mastel, vỏ màu đỏ - đen, sử dụng số thuê bao 01662906790;

+ Trả lại cho bị cáo Trần Văn T 1 xe máy hiệu Exceiter màu đen – trắng, biển kiểm soát 79H1-664.46.

Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/1/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Nha Trang và Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Nha Trang.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án; bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


48
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HSST ngày 23/01/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:11/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:23/01/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về