Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 28/03/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 11/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/03/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 28 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 668/2018/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2018 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2019/QĐXX-ST ngày 26 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Trúc L, sinh năm 1985;

HKTT tại: số 36, khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Phan Thanh S, sinh năm 1981;

Cư trú tại: số 36, khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre.

Chị L có mặt, anh S vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các biên bản làm việc trong quá trình tố tụng tại Tòa án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Phan Thanh S kết hôn vào năm 2007, hôn nhân do anh chị tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre vào ngày 22/3/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do cả hai có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường cãi nhau. Cuộc sống vợ chồng lạnh nhạt dần và đã sống ly thân khoảng 05 tháng nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị với anh S không còn nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S.

Về con chung: Có 01 con chung tên Phan Ngọc Thanh P, sinh ngày 05/5/2008, con chung hiện nay đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị và anh S không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Phan Thanh S trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh S đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của anh S.

Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến: Về tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo quy định của pháp luật. Về nội dung: chị L và anh S đã ly thân khoảng 05 tháng nay. Tại biên bản xác minh của Tòa án đã xác định được trong thời gian chung sống chị L và anh S có phát sinh mâu thuẫn. Trong suốt quá trình tố tụng, anh S vắng mặt; điều đó cho thấy anh S không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh S đã trầm trọng, hôn nhân có kéo dài cũng không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị L. Về con chung, trong thời gian ly thân chị L trực tiếp nuôi con là Phan Ngọc Thanh P, sinh ngày 05/5/2008; anh S không có yêu cầu gì về con và cháu P có nguyện vọng sống với chị L nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của chị L; chị L không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Tòa án ghi nhận. Về tài sản chung và nợ chung, chị L và anh S không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa chị Nguyễn Thị Trúc L và anh Phan Thanh S là tranh chấp về ly hôn, bị đơn anh S hiện đang cư trú tại thị trấn C, huyện C, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn anh Sang vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã tiến hành lập biên bản không hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn anh S vẫn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Do đó, căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh S.

[2] Về hôn nhân: Chị L và anh S tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre vào ngày 22/3/2007 (số 07/2007 quyển số 01) nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Chị L xác định chị và anh S đã ly thân khoảng 05 tháng nay, nguyên nhân là do vợ chồng có bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng anh S không tham gia phiên hòa giải; điều đó cho thấy, anh S không có thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Tại biên bản xác minh ngày 15/02/2019 của Tòa án đã xác định được, trong thời gian chung sống chị L và anh S thường hay cãi nhau; thời gian qua, nhiều lần chị L bỏ về nhà mẹ ruột và thời gian gần đây mâu thuẫn trầm trọng hơn nên chị L đã về nhà mẹ ruột ở đến nay; hiện tại anh S cũng không có mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, kết quả xác minh này phù hợp với lời khai của chị L. Từ đó có cơ sở để xác định, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh S đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì tình trạng này sẽ ảnh hưởng đến đời sống bình thường của các thành viên trong gia đình nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L.

[3] Về con chung: Theo giấy khai sinh do Ủy ban nhân dân thị trấn Châu Thành, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre cấp ngày 19/5/2008 thì chị L và anh S có 01 con chung tên Phan Ngọc Thanh P, sinh ngày 05/5/2008, hiện nay đang sống chung với chị L. Chị L yêu cầu được nuôi con chung sau khi ly hôn. Xét thấy, hiện nay cháu P đang sống cùng chị L và cháu P cũng có nguyện vọng được sống cùng mẹ; anh S không có yêu cầu gì về con. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung và không làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của con, Hội đồng xét xử giao cháu P cho chị L trực tiếp nuôi là phù hợp theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Chị L không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[5] Về án phí: Chị L phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đồng.

[6] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 147, 207, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Trúc L ly hôn với anh Phan Thanh S.

2. Về con chung: Giao con chung là Phan Ngọc Thanh P, sinh ngày 05 tháng 5 năm 2008 cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận việc chị L không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Chị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0020658 ngày 24/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành. 

Đương sự đã nộp đủ án phí.

Chị L có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh S vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.


87
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 28/03/2019 về ly hôn

Số hiệu:11/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:28/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về