Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 22/08/2019 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG ANA, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 11/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/08/2019 VỀ LY HÔN VÀ TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 22 tháng 8 năm 2019 tại hội trường Tòa án nhân dân huyện Krông Ana xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 38/2019/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 3 năm 2019 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị H, sinh năm 1987. Có mặt.

Địa chỉ: Buôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bị đơn: Anh Y, sinh năm 1987. Vắng mặt.

Địa chỉ: Buôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 11/3/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị H trình bày:

Chị và anh Y chung sống với nhau từ tháng 01/2007, nhưng đến ngày 14/7/2010 chị và anh Y mới đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk, việc chị và anh Y chung sống và kết hôn với nhau là hoàn toàn tự nguyện, vợ chồng chị sống hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Y không chăm lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, đi ngoại tình với người phụ nữ khác, làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Chị và anh Y đã sống ly thân từ cuối năm 2017 đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm giữa chị và anh Y không còn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, chị và anh Y không còn chung sống với nhau đã lâu nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn với anh Y.

Về con chung: Chị H và anh Y có 02 con chung tên là H1, sinh ngày 18/7/2008 và H2 sinh ngày 30/9/2010, hiện nay các con đang ở với chị H, khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con, không yêu cầu anh Y cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản và nợ chung: Chị H xác định chị và anh Y không có tài sản chung và hiện nay không nợ ai tài sản gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Y: Tòa án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án và giấy triệu hợp lệ nhiều lần nhưng anh Y không đến Tòa án làm việc. Qua xác minh tại địa phương thì được biết anh Y hiện đang cư trú tại buôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, anh Y không đến Tòa án để tham gia tố tụng nên Tòa án không thể lấy lời khai của anh Y được.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và về việc giải quyết vụ án:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách tham gia tố tụng của đương sự, thông báo về việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chị H thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự, bị đơn anh Y không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các điều 56, 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, cho chị H được ly hôn với anh Y.

Về con chung: Giao cháu H1, sinh ngày 18/7/2008 và H2 sinh ngày 30/9/2010 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Chị H xác định không có nên không xem xét giải quyết. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, lời trình bày của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị H có đơn khởi kiện xin ly hôn với anh Y. Đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn anh Y cư trú tại: buôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Đắk Lắk.

[2] Về thủ tục tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho bị đơn anh Y, nhưng anh Y không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không tiến hành lấy lời khai và hòa giải được. Vì vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định pháp luật.

Anh Y đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Y tự nguyện chung sống với nhau từ tháng 01/2007, đến ngày 14/7/2010 chị H và anh Y đăng ký kết hôn tại UBND xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Chị H và anh Y chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh Y không chăm lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con, đi ngoại tình với người phụ nữ khác. Chị H và anh Y Danh đã sống ly thân từ cuối năm 2017 đến nay. Qua xác minh tại buôn T, xã E, huyện K, nơi anh Y cư trú, thể hiện vợ chồng anh Y và chị H đã xảy ra mâu thuẫn từ đầu năm 2016, vợ chồng anh, chị đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay.

Hội đồng xét xử xét thấy giữa chị H và anh Y không còn tình cảm, thương yêu, tôn trọng nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn anh Y là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị H và anh Y có 02 con chung là H1, sinh ngày 18/7/2008 và H2, sinh ngày 30/9/2010, khi ly hôn chị H có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Xét điều kiện, hoàn cảnh của chị H và nguyện vọng của cháu H1 và H2. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt của con, c ng như nghĩa vụ của cha m đối với con chưa thành niên, từ trước đến nay cháu H1 và H2 ở với chị H tại buôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk có nơi ở, sinh hoạt, học tập n định. Đồng thời chị H có công việc và thu nhập n định. Căn cứ vào Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu H1 và H2 cho chị H nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh Y có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở việc thực hiện quyền này.

Về tài sản chung: Chị H xác định chị và anh Y không có tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Chị H xác định chị và anh Y không nợ ai tài sản gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.

[5] Về án phí: Chị H là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, có đơn đề nghị miễn, giảm tạm ứng án phí, án phí nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các điều 56; 81; 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị H và anh Y.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung H1, sinh ngày 18/7/2008 và H2, sinh ngày 30/9/2010 cho chị H trực nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu nên không giải quyết.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho chị H.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2019/HNGĐ-ST ngày 22/08/2019 về ly hôn và tranh chấp nuôi con

Số hiệu:11/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Krông A Na - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/08/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về