Bản án 11/2018/HS-ST ngày 28/03/2018 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN 

BẢN ÁN 11/2018/HS-ST NGÀY 28/03/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC 

Trong ngày 28 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 13/2018/TLST - HS ngày 01 tháng 3 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 19/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 3 năm 2018, đối với các bị cáo:

1. Hồ Văn H, sinh năm 1981 tại thôn F, xã QL, thị xã H, tỉnh Nghệ an,

Nơi cư trú: Thôn F, xã QL, thị xã H, tỉnh Nghệ an; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc Tịch: Việt Nam; con ông Hồ Đức P, sinh năm 1950 và bà Đinh Thị L, sinh năm 1954; có vợ Hoàng Thị H, sinh năm 1986 và con: Có 3 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: Ngày 30/11/2016 bị Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh Nghệ An xử phạt 11.000.000đ về tội Đánh bạc, chấp hành xong hình phạt ngày 14/8/2017, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ T ngày 14/12/2017 đến ngày 23/12/2017 thì được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn An H, sinh năm 1974 tại xóm QT, xã QB, huyện QL, tỉnh Nghệ an,

Nơi cư trú: Xóm QT, xã QB, huyện QL, tỉnh Nghệ an; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 4/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc Tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hoàng H (đã mất) và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1946; có vợ Trương Thị H, sinh năm 1977 và con: Có 3 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không, nhân thân: Ngày 25/5/2011 bị Tòa án nhân dân huyện QL, tỉnh Nghệ An xử phạt 30 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2011/HSST; Ngày 12/6/2013 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 33 tháng 3 ngày tù (gồm cả tổng hợp hình phạt tại bản án số 27/2011/HSST) về tội Đánh bạc, chấp hành xong hình phạt tù (đặc xá) ngày 31/8/2015; bị tạm giữ T ngày 14/12/2017 đến ngày 23/12/2017 thì được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Lê Văn Đ, sinh năm 1972 tại khối khối L, phường QX, thị xã H, tỉnh Nghệ an,

Nơi cư trú: Khối L, phường QX, thị xã H, tỉnh Nghệ an; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc Tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân K (đã mất) và bà Hồ Thị Q (đã mất); có vợ Vũ Thị X, sinh năm 1975 và con: Có 3 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ T ngày 14/12/2017 đến ngày 23/12/2017 thì được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Đình T, sinh năm 1966 tại thôn C, xã QL, thị xã H, tỉnh Nghệ an,

Nơi cư trú: Thôn C, xã QL, thị xã H, tỉnh Nghệ an; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ Văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc Tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình T (đã mất) và bà Nguyễn Thị T (đã mất); có vợ Vũ Thị N, sinh năm 1967 và con: Có 3 con, lớn sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ T ngày 14/12/2017 đến ngày 23/12/2017 thì được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

5. Hồ Trọng T, sinh năm 1957 tại thôn J, xã QL, thị xã H, tỉnh Nghệ an,

Nơi cư trú: Thôn J, xã QL, thị xã H, tỉnh Nghệ an; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc Tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn Y (đã mất) và bà Nguyễn Thị D (đã mất); có vợ Vũ Thị Q, sinh năm 1961 và con: Có 5 con, lớn sinh năm 1982, nhỏ nhất sinh năm 1992; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ T ngày 14/12/2017 đến ngày 23/12/2017 thì được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 14 tháng 12 năm 2017, Hồ Văn H, Nguyễn Đình T, Nguyễn An H và Lê Văn Đ đến nhà Hồ Trọng T chơi. Tại đây H rủ mọi người đánh bạc bằng hình thức đánh bài chắn. T, H và Đ đồng ý. Lúc này mọi người xin T đánh bạc tại nhà và nhờ T đi mua một bộ bài chắn, sau khi đi mua bài về, T vào nhà mình lấy một chiếc bát sứ, một chiếc thau nhôm và một chiếc rổ nhựa là công cụ để mọi người sử dụng vào việc đánh bạc. H, H, T và Đ thống nhất mức độ sát phạt nhau T 50.000đ đến 250.000đ. T ngồi xem mọi người đánh bạc một lúc thì cho Đ vay số tiền 200.000đ để đánh bạc rồi T đi ra vườn chăn bò. Khi đánh bạc, H có số tiền 6.000.000đ, H lấy ra số tiền 2.100.000đ để đánh bạc. Số tiền còn lại 3.900.000đ để trong ví da cất trong túi quần không sử dụng vào việc đánh bạc. T có số tiền 2.100.000đ, T dùng toàn bộ số tiền trên để đánh bạc. Đ có số tiền 5.650.000đ, Đ lấy ra số tiền 1.500.000đ và vay của T số tiền 200.000đ để đánh bạc, số tiền 4.150.000đ để trong ví da cất ở túi quần không dùng vào việc đánh bạc. H có số tiền 1.000.000đ và dùng tất cả số tiền trên để đánh bạc. Khi H, T, Đ, H đang đánh bạc đến 10 giờ 30 phút cùng ngày thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoàng Mai phát hiện bắt quả tang thu giữ tại chiếu bạc số tiền 6.900.000đ, 01 bộ bài chắn 100 quân, 01 bát sứ màu trắng, 01 thau nhôm màu trắng, 01 rổ nhựa màu đỏ. Thu giữ trong túi quần Đ 01 chiếc ví da bên trong có số tiền 4.150.000đ, thu giữ trong túi quần bên phải của H 01 ví da màu nâu bên trong có số tiền 3.900.000đ; Ngoài ra thu giữ của Đ 01 chiếc xe ô tô Lacetti BKS 37A - 010.07, thu của H 01 xe mô tô Well BKS 29M2 - 1024. Đến 11 giờ 40 phút cùng ngày, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoàng Mai đầu thú hành vi của mình.

Như vậy, tổng số tiền mà H, T, Đ và H đã và đang dùng vào việc đánh bạc là 6.900.000đ. Số tiền 8.050.000đ thu trong người H và Đ không dùng vào việc đánh bạc.

Tại bản cáo trạng số 16/VKS-HS, ngày 26 tháng 02 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai đã truy tố các bị cáo Hồ Văn H, Nguyễn An H, Nguyễn Đình T, Lê Văn Đ, Hồ Trọng T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa hôm nay Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Văn H, Nguyễn An H, Nguyễn Đình T, Lê Văn Đ, Hồ Trọng T phạm tội "Đánh bạc".

Áp dụng: Khoản 1 Điều 248; Điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn H 4 - 6 tháng tù.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 248; Điểm p khoản 1 Điều 46; Điều 31; Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn An H 12 - 15 tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 27 ngày cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập của bị cáo mỗi tháng 1.000.000đ.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 248; Điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 Bộ luật hình sự; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Đ 12.000.000đ - 15.000.000đ.

Xử phạt: Bị cáo Hồ Trọng T 8.000.000đ - 10.000.000đ.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 248; Điểm h, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53 Bộ luật hình sự; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 8.000.000đ - 10.000.000đ.

Vật chứng vụ án: Tịch thu xung quỹ Nhà nước 6.900.000đ tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc; Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài chắn 100 quân, 01 bát sứ, 01 chiếc thau nhôm, 01 chiếc rổ nhựa.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét toàn diện đầy đủ chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau.

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Hoàng Mai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, vật chứng đã thu được và các tài liệu khác có tại hồ sơ. Có căn cứ kết luận vào khoảng 9 giờ 30 phút, ngày 14/12/2017 tại nhà ở của Hồ Trọng T, Hồ Văn H, Nguyễn An H, Nguyễn Đình T, Lê Văn Đ đã có hành vi sát phạt nhau bằng hình thức đánh bài “Chắn” với số tiền đánh bạc được xác định là 6.900.000đ.

Đối với Hồ Trọng T với vai trò là chủ nhà, đã chuẩn bị công cụ phạm tội, cho Đ vay tiền và các đối tượng khác đánh bạc tại nhà mình nên T phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm tội Đánh bạc.

Quá trình phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi bằng hình thức đánh bạc sát phạt nhau nên vẫn thực hiện.

Hành vi của các bị cáo thực hiện nêu trên có đủ căn cứ kết luận Hồ Văn H, Nguyễn An H, Lê Văn Đ, Nguyễn Đình T, Hồ Trọng T phạm tội: "Đánh bạc", tội phạm và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999 (nay được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS năm 2015) như cáo trạng quy kết là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến đạo đức lối sống và gây mất trật tự trị an trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, là loại tội phạm làm nảy sinh nhiều loại tội phạm khác nên cần xử lý nghiêm để giáo dục đối với các bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn, Trong vụ án này vai trò của các bị cáo như sau: Hồ Văn H là người khởi xướng nên xếp vai trò cầm đầu, Hồ Trọng T là chủ nhà, Nguyễn An H, Nguyễn Đình T, Lê Văn Đ cùng tham gia đánh bạc nên xếp vai trò thứ yếu.

[5] Bị cáo H có tình tiết tăng nặng là tái phạm, các bị cáo H, T, Đ, T không có các tình tiết tăng nặng.

Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đối với bị cáo T, Đ, T; Bị cáo H, T, Đ, T có thêm tình tiết giảm nhẹ là gia đình có công với cách mạng; Bị cáo T trong chiến đấu bảo vệ tổ quốc được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ vẻ vang và huân chương chiến công; Bị cáo T sau khi phạm tội đã nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật nên đã đầu thú; Ngoài ra, thực hiện hướng dẫn tại Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội, khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Hướng dẫn số 04/TANDTC-PC, ngày 09/01/2018; Do tội phạm xảy ra trước ngày 01/01/2018 nên căn cứ xử phạt các bị cáo theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999.

Do đó, đối với bị cáo Hồ Văn H cần giảm nhẹ một phần nhưng cần thiết phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Đối với bị cáo H có địa chỉ và nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ niềm tin để bị cáo trở T công dân tốt cho xã hội.

Bị cáo H bị phạt cải tạo không giam giữ, đồng thời phải áp dụng khấu trừ thu nhập hàng tháng mức 800.000đ/tháng là cần thiết để sung công quỹ Nhà nước.

Đối với các bị cáo Lê Văn Đ, Nguyễn Đình T, Hồ Trọng T chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính tin chắc cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục các bị cáo trở T công dân tốt.

[6] Về hình phạt bổ sung: Điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo H khó khăn về kinh tế nên miễn phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

[7] Vật chứng vụ án: Số tiền 6.900.000đ được xác định các bị cáo dùng vào việc đánh bạc hiện đang thu giữ cần sung quỹ Nhà nước; 01 bộ bài chắn 100 quân, 01 bát sứ, 01 chiếc thau nhôm, 01 chiếc rổ nhựa là công cụ phương tiện phạm tội không có giá trị cần tiêu hủy.

01 chiếc xe ô tô Lacetti BKS 37A - 010.07 và 01 chiếc xe mô tô Well BKS 29M2 - 1024. Cơ quan điều tra đã trả lại cho Hồ Văn H và Lê Văn Đ là chủ sở hữu là đúng pháp luật.

[8] Về án phí: Các bị cáo Hồ Văn H, Nguyễn An H, Lê Văn Đ, Nguyễn Đình T, Hồ Trọng T phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 248, điểm h (đối với T, Đ, T), p, s (đối với T), khoản 1, khoản 2 (đối với T, Đ, T), Điều 46, Điều 31 (đối với H), điểm g khoản 1 Điều 48 (đối với H), Điều 53 Bộ luật hình sự năm 1999; Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 2015, Nghị quyết số 41/2017/QH14, ngày 20 tháng 6 năm 2017 của Quốc Hội.

Tuyên bố các bị cáo Hồ Văn H, Nguyễn An H, Lê Văn Đ, Nguyễn Đình T, Hồ Trọng T phạm tội "Đánh bạc".

Xử phạt: Bị cáo Hồ Văn H 09 (chín) tháng tù; Thời hạn tù được tính T ngày bắt thi hành án nhưng được trừ thời gian tạm giữ T ngày 14/12/2017 đến ngày 23/12/2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn An H 18 (Mười tám) tháng cải tạo không giam giữ; nhưng được trừ 27 ngày (Do bị tạm giữ T ngày 14/12/2017 đến ngày 23/12/2017 là 9 ngày x 3 = 27 ngày cải tạo không giam giữ).

Khấu trừ thu nhập 18 tháng của Nguyễn An H, mỗi tháng 800.000đ; Tổng cộng 14.400.000đ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính T ngày Cơ quan tổ chức được giao giám sát bị cáo nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn An H cho UBND xã QB, huyện QL, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ; Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Đ 10.000.000đ (Mười triệu đồng).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T 8.000.000đ (Tám triệu đồng).

Xử phạt: Bị cáo Hồ Trọng T 8.000.000đ (Tám triệu đồng).

Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 6.900.000đ tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc; Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài chắn 100 quân, 01 bát, 01 chiếc thau, 01 chiếc rổ (Bộ bài, bát, thau, rổ có số lượng, đặc điểm như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/02/2018 giữa Cơ quan điều tra Công an thị xã Hoàng Mai và Chi cục thi hành án Dân sự thị xã Hoàng Mai; Số tiền đã nộp vào Kho bạc Nhà nước Hoàng Mai ngày 26/12/2017 tại tài khoản số 3949.0.9068613.00000 của Công an thị xã Hoàng Mai).

Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội; Buộc các bị cáo Hồ Văn H, Nguyễn An H, Lê Văn Đ, Nguyễn Đình T, Hồ Trọng T mỗi người phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Kể T ngày án có hiệu lực pháp luật, nếu các bị cáo không thi hành khoản tiền phạt đã tuyên thì hàng tháng còn phải chịu thêm khoản lãi theo mức lãi suất cơ bản do ngân hàng Nhà nước công bố, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Các bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


121
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về