Bản án 11/2018/HNGĐ-ST ngày 05/03/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DK - TỈNH KH

BẢN ÁN 11/2018/HNGĐ-ST NGÀY 05/03/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 05 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện DK xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 439/2017/TLST-HNGĐ ngày 09/11/2017 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2018/QĐXXST- HNGĐ ngày 29/01/2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2018/QĐST-HNGĐ ngày 07/02/2018 giữa các đương sự:

1. Ngu yên đơn : Chị M - sinh năm 1973

Địa chỉ: Thôn Hội Xương, xã Suối Hiệp, huyện DK, tỉnh KH.

Chị M có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn : Anh H - sinh năm 1974

Địa chỉ: Thôn Hội Xương, xã Suối Hiệp, huyện DK, tỉnh KH.

Anh H vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 04/11/2017, bản tự khai ngày 22/11/2017 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị M trình bày: chị và anh H tự nguyện yêu thương nhau, chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Suối Hiệp theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23/1996 ngày 16/8/1996. Trong quá trình chung sống thì giữa chị và anh H thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H thường xuyên say xỉn, đánh đập chị, không có trách nhiệm với gia đình, dẫn đến tình cảm giữa vợ chồng ngày càng áp lực, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Chị đã nhiều lần khuyên và tạo cơ hội nhưng anh H vẫn không có sự thay đổi bản tính của mình. Chị xác định không còn tình cảm yêu thương, quan tâm, chăm sóc đến anh H nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.

Về con chung: Chị và anh H có 02 con chung là Lê Ngọc D - sinh năm 1992 và Lê Thị Quỳnh N - sinh ngày 08/7/2002. Đối với cháu D đã trưởng thành nên chị không có yêu cầu gì. Chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: chị và anh H tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: chị xác định giữa chị và anh H không có nợ chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mời anh H đến Tòa án làm việc, nhưng anh H vẫn cố tình vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản, giấy tờ tài liệu cần thiết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị M vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh H; được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung; tài sản chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung: không có. Bị đơn anh H vắng mặt lần thứ hai, không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện DK - KH phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng. Bị đơn vi phạm khoản 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị M xin ly hôn với anh H. Về conchung: Giao con chung Lê Thị Quỳnh N - sinh ngày 08/7/2002, cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc,  nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về án phí: Chị M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về th ủ tụ c tố tụ ng : Anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn anh H.

[2]. Về q u an hệ hôn n hân : Chị M và anh H tự nguyện yêu thương nhau về sống chung và có đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã Suối Hiệp, đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23/1996 ngày 16/8/1996 theo quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống giữa chị M và anh H đã xảy ra nhiều mâu thuẫn. Theo chị M nguyên nhân là do anh H có mối quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài, thường xuyên say xỉn, đánh đập chị, không có trách nhiệm với gia đình, dẫn đến kình cãi, tình cảm giữa vợ chồng ngày càng áp lực, cuộc sống gia đình không hạnh phúc. Chị M xác định đã không còn quan hệ vợ chồng với anh H từ tháng 01/2017 cho đến nay. Do đó, tình cảm chị M dành cho anh H không còn. Anh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng anh H không đến Tòa làm việc. Điều này chứng tỏ, anh H không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này nên cho thấy hôn nhân giữa chị M và anh H đã có mâu thuẫn dẫn đến gia đình không có hạnh phúc, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, không thể khắc phục, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị M được ly hôn với anh H.

[3]. Về con chung : vợ chồng chị M và anh H có 02 con chung là Lê Ngọc D - sinh năm 1992 và Lê Thị Quỳnh N - sinh ngày 08/7/2002. Cháu D đã trưởng thành, chị M không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với cháu Lê Thị Quỳnh N có nguyện vọng được ở với chị M và hiện tại chị M đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N. Chị M có yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con chung. Đây là yêu cầu chính đáng của chị M ph hợp với pháp luật nên cần để chị M tiếp tục chăm sóc và nuôi dưỡng cháu N.

[4]. Về tài sản chung : tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5]. Về nợ chung : Chị M xác định giữa chị và anh H không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6]. Về án phí

Chị M phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự.

 Tuyên xử :

[1]. Chấp nhận yêu cầu của chị M được ly hôn với anh H.

[2]. Về con chun g : Giao con chung Lê Thị Quỳnh N - sinh ngày 08/7/2002, cho chị M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Anh H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh H có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Trong quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, chị M, anh H có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

[3]. Về án phí : chị M nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), mà chị M đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0018451 ngày 09/11/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện DK - KH; chị M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh KH xét xử phúc thẩm.


64
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 11/2018/HNGĐ-ST ngày 05/03/2018 về ly hôn

Số hiệu:11/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Diên Khánh - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 05/03/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về