Bản án 111/2019/HSST ngày 20/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 111/2019/HSST NGÀY 20/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019, đối với:

Bị cáo: ĐỖ HỮU T, sinh năm 1984.

Trú tại: Thôn N, xã X, huyện T, tỉnh Thái Bình.

Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Con ông Đỗ Hữu B và bà Hoàng Thị M. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2011 bị đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc. Năm 2013 bị xử phạt tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 02/01/2016 chấp hành xong hình phạt.

Bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 26/8/2019 đến ngày 13/9/2019 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt)

Bị hại: Anh Bùi Hữu K, sinh năm 1984; Trú tại thôn P, xã A, huyện, tỉnh Thái Bình (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị M, sinh năm 1988; Trú tại khu X thị trấn D, huyện T, tỉnh Thái Bình (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 12 giờ ngày 25/8/2019, Đỗ Hữu T điều khiển xe mô tô Taurus màu đen, biển kiểm soát 17N6-6841 đi từ nhà sang xã Nam Am, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng để mua hàng. Khi đến gần cây xăng ở xã Thụy Tân thì xe bị thủng săm, T dắt bộ xe quay lại khoảng 500 mét thì thấy quán sửa xe máy của anh Bùi Hữu K nên đi đến để vá xe. T đứng ngoài cửa gọi “K ơi” hai lần không thấy ai trả lời. T ngồi cửa đợi một lúc không thấy ai ra. T đi vào phía trong quán thấy 1 chiếc điện thoại màu trắng, nhãn hiệu iPhone 5 nên đã lấy bỏ vào túi quần. Nhìn thấy chiếc máy tính xách tay đang sạc pin ở bàn T rút dây sạc ra và cầm luôn cả máy tính và cục sạc lên xe mô tô điều khiển xe về nhà rồi để toàn bộ số tài sản vừa trộm cắp được ở phòng ngủ của T. Đến 15 giờ ngày 26/8/2019, biết hành vi phạm tội của mình đã bị phát hiện nên T đã đến Công an xã Thụy Xuân đầu thú và giao nộp những tài sản trên. Cơ quan điều tra đã thu giữ, quản lý chiếc xe mô tô biển kiểm soát 17N6-6841.

Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự kết luận 1 máy tính xách tay Dell trị giá 2.500.000 đồng, 1 cục sạc 100.000 đồng, 1 điện thoại iPhone 5 trị giá 500.000 đồng. Tổng cộng 3.100.000 đồng.

Ti bản cáo trạng số 112 ngày 07/11/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Đỗ Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Ti phiên tòa, Đỗ Hữu T đã thành khẩn khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của anh K như trên. Chị M đề nghị Tòa xem xét trả lại chiếc xe mô tô bị cáo mượn của chị.

Luận tội của Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 9 tháng đến 1 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung, trách nhiệm dân sự; đề xuất xử lý vật chứng và buộc bị cáo phải chịu án phí.

Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và không tranh luận.

Nói lời sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ: Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Bản kết luận định giá tài sản; Lời khai của bị hại Bùi Hữu K, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị M cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Bị cáo đã trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá 3.100.000 đồng là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, vào tận nhà để chiếm đoạt tài sản tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây dư luận xấu và gây mất trật tự trị an tại địa phương.

[5] Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc đưa vụ án ra xét xử và xử bị cáo mức hình phạt tương xứng là cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, để răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm chung.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng."

[6] Bị cáo đầu thú, thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Bị cáo không có công việc ổn định, thu nhập thấp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Anh Bùi Hữu K đề nghị trả lại anh 1 chiếc điện thoại iPhone 5, 1 máy tính xách tay Dell và cục sạc máy tính mà bị cáo đã chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, cần được chấp nhận.

[9] Chiếc xe mô tô Taurus biển kiểm soát 17N6-6841 là tài sản của chị Đỗ Thị M (em gái T). Chị M không biết T dùng xe đi trộm cắp nên không có lỗi, cần trả lại xe cho chị M.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Hữu T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Tuyên phạt bị cáo Đỗ Hữu T 9 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giam, giữ từ ngày 26/8/2019 đến ngày 13/9/2019.

3. Về trách nhiệm dân sự: Trả lại anh Bùi Hữu K 1 chiếc điện thoại iPhone 5, 1 máy tính xách tay Dell và 1 cục sạc máy tính. Anh K không yêu cầu bồi thường các khoản thiệt hại khác.

4. Về xử lý vật chứng: Tuyên trả chị Đỗ Thị M 1 chiếc xe mô tô Taurus biển kiểm soát 17N6-6841.

(Các đồ vật nêu trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy ngày 08/11/2019)

5/ Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự.

6/ Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 20/11/2019


22
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 111/2019/HSST ngày 20/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:111/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thái Thụy - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về