Bản án 110/2019/HSST ngày 20/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH

BẢN ÁN 110/2019/HSST NGÀY 20/11/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 20 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2019/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019, đối với:

Bị cáo: NGUYỄN VĂN V, sinh năm 1954.

Trú tại: Thôn T, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Trình độ học vấn: 01/10; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị K. Có vợ là Nguyễn Thị B và 3 con. Tiền án: 4 Bản án số 02/2010/HSST ngày 10/3/2010 bị Tòa án huyện Trực Ninh – Nam Định phạt 15 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. V chấp hành xong hình phạt ngày 12/02/2011 Bản án số 147/2011/HSST ngày 26/9/2011 bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xử phạt 18 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. V chấp hành xong hình phạt ngày 30/12/2012 Bản án số 19/2014/HSST ngày 08/5/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 2 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. V chấp hành xong hình phạt ngày 18/12/2015.

Bản án số 57/2017/HSST ngày 10/7/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xử phạt 2 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. V chấp hành xong hình phạt ngày 30/01/2019.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Có thời gian tham gia quân đội từ tháng 12/1974 đến tháng 12/1978; Năm 1983 bị đưa đi tập trung cải tạo 3 năm; Năm 1988 và 1989 bị xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản công dân; Năm 1998 bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản công dân. Năm 2007 bị xử phạt tù về tội Trộm cắp tài sản.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2019 đến nay (Có mặt)

Bị hại:

- Anh Lưu Văn Đ, sinh năm 1973; Trú tại thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (có mặt)

- Chị Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1994; Trú tại thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (có mặt)

- Chị Bùi Thị T, sinh năm 1990; Trú tại thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1958, trú tại T, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình (có mặt)

Người làm chứng: Chị Bùi Thị N, sinh năm 1986 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1956; Đều trú tại thôn B, xã N, huyện T, tỉnh Thái Bình (đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 12 giờ ngày 28/6/2019, V điều khiển xe mô tô Ferroli biển kiểm soát 17FA-9789 đi từ nhà ra thị trấn Diêm Điền. Khi đi qua nhà anh Đ thấy cửa mở nên V dừng lại, quan sát xung quanh không thấy ai, V để xe ngoài đường, rồi đi vào trong phòng khách. Thấy vợ chồng anh Đ đang ngủ, cạnh giường có 1 chiếc điện thoại Samsung màu trắng đang sạc pin, V lấy điện thoại cất vào cạp quần rồi nhanh chóng đi ra chỗ để xe thì bị vợ chồng anh Đ phát hiện đuổi theo bắt giữ. V trả lại điện thoại cho anh Đ nên được anh Đ cho về.

Khong 12 giờ ngày 29/6/2019, V điều khiển xe mô tô đi đến quán nước nhà chị A, V vào uống nước, thấy 1 chiếc điện thoại iPhone 6S màu xám đang sạc pin ở trên giường trong phòng ngủ, V nảy sinh ý định chiếm đoạt. Vì lúc này có nhiều người nên V điều khiển xe lảng đi, khoảng 30 phút sau quay lại, thấy không có ai, V để xe ở ngoài rồi đi bộ vào quán lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi đi xe sang chợ Lục, bán cho một người phụ nữ không biết tên, tuổi lấy 250.000 đồng.

Khong 10 giờ ngày 30/6/2019, V điều khiển xe mô tô đi qua nhà chị T, thấy cửa mở, V dựng xe ở ngoài rồi đi bộ vào, thấy có chiếc điện thoại di động Oppo F3 để trên mặt ghế ở phòng khách. V lấy bỏ vào túi quần rồi đi về nhà, chưa kịp bán thì bị phát hiện. V đã đến Công an huyện Thái Thụy đầu thú và giao nộp chiếc điện thoại Oppo F3, chiếc xe mô tô Ferroli và số tiền 600.000 đồng.

Bản kết luận định giá tài sản số 30/BB-ĐG ngày 02/7/2019 kết luận: Chiếc điện thoại Samsung trị giá 600.000 đồng; chiếc điện thoại iPhone 6S trị giá 3.500.000 đồng; chiếc điện thoại Oppo F3 trị giá 2.200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 6.300.000 đồng.

Anh Đ và chị T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường khoản nào khác. Chị A yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho chị số tiền 3.500.000 đồng.

Ti bản cáo trạng số 107 ngày 10/10/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Ti phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Luận tội của Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 2 năm 3 tháng đến 2 năm 6 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự và buộc bị cáo phải chịu án phí.

Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt, xử lý vật chứng và không tranh luận.

Nói lời sau cùng, bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của bản thân và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ: Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; Biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; Bản kết luận định giá tài sản; Lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Bị cáo đã trên 60 tuổi, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được việc lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác gây mất trật tự trị an, gây dư luận xấu và tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân.

[5] Bị cáo đã 3 lần trộm cắp tài sản với tổng giá trị tài sản là 6.300.000 đồng. Bản thân bị cáo có 4 tiền án. Bị cáo đã tái phạm nay lại phạm tội do cố ý, như vậy hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản với tình tiết định khung tăng nặng tái phạm nguy hiểm quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Việc đưa vụ án ra xét xử và xử bị cáo mức hình phạt tương xứng là cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo, để răn đe, đấu tranh và phòng ngừa tội phạm chung.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:…

g) Tái phạm nguy hiểm…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng."

[6] Bị cáo đầu thú, thành khẩn khai nhận, bị cáo tác động gia đình bồi thường một phần cho bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7] Bị cáo có nhân thân xấu, đã có 4 tiền án và nhiều lần bị kết án trong quá khứ nhưng không lấy đó làm bài học, tiếp tục nhiều lần phạm tội, cần phải xử cho bị cáo mức hình phạt thỏa đáng, cho cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện. Bị cáo tuổi cao, không có công việc ổn định, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Anh Đ, chị T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường các thiệt hại khác nên không đặt ra giải quyết. Chiếc điện thoại của chị A, bị cáo bán cho người không quen biết nên không thu hồi được. Chị A yêu cầu bị cáo bồi thường 3.500.000 đồng bằng với kết quả định giá, như vậy là hợp lý, cần được chấp nhận, buộc bị cáo phải bồi thường. Chiếc xe mô tô Ferroli là tài sản của bà B (vợ bị cáo). Khi bị cáo lấy xe đi trộm cắp, bà B không biết nên không có lỗi, cần trả lại chiếc xe này cho bà B. Bà B đề nghị chuyển số tiền 600.000 đồng của bà sang thực hiện nghĩa vụ bồi thường của bị cáo, cần được chấp nhận.

[9] Bị cáo là người cao tuổi, kinh tế khó khăn nên được miễn tiền án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Về hình phạt: Tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn V 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ 02/7/2019.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Văn V bồi thường cho chị Nguyễn Ngọc A số tiền 3.500.000 đồng. Anh Đ, chị T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường các thiệt hại khác.

4. Về xử lý vật chứng:

- Trả lại bà Nguyễn Thị B 1 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Ferroli biển kiểm soát 17FA-9789;

- Chuyển số tiền 600.000 đồng thu giữ của bà B sang thi hành án.

(Các đồ vật trên có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy ngày 10/10/2019)

5/ Về án phí: Miễn tiền án phí hình sự và dân sự sơ thẩm cho bị cáo.

6/ Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 20/11/2019. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tống đạt hợp lệ bản án./.


25
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 110/2019/HSST ngày 20/11/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:110/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thái Thụy - Thái Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 20/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về