Bản án 110/2017/HS-ST ngày 15/09/2017 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 110/2017/HS-ST NGÀY 15/09/2017 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 15 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2017/HS-ST, ngày 14/8/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2017/HSST-QĐ ngày 01 tháng 9 năm 2017, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn B, sinh năm: 1980; Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã Y, huyện H, tỉnh Ninh Bình; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Trần Cao T, mẹ đẻ: Nguyễn Thị I; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: - Bản án số 99 ngày 10/6/2011 Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 33 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Ra trại ngày 5/9/2013). – Bản án số 37 ngày 13/8/2014

Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 24 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Ra trại ngày 26/02/2016); Tiền sự: Ngày 26/7/2010, Ủy ban nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam ra Quyết định số 1012 đưa vào trung tâm chữa bệnh bắt buộc 24 tháng, trong quá trình chữa bệnh Bình bỏ trốn khỏi trung tâm, đến ngày 26/2/2011 trung tâm chữa bệnh bắt buộc tỉnh Hà Nam ra quyết định truy tìm.

Bị cáo bị bắt tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Ninh Bình từ ngày 30/05/2017 đến nay. Có mặt

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Văn B bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Trần Văn B là đối tượng nghiện ma túy và đã có tiền án về tôi tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích. Khoảng 8 giờ 30 phút ngày 23/5/2017, B một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Jiulong BKS 28N1-0527 từ nhà ở thôn Thôn T, xã Y, huyện H, tỉnh Ninh Bình xuống thành phố Ninh Bình rồi sang khu vực xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, B gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 100.000 đồng được 01 gói ma túy, gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, mua được ma túy B cầm ở tay trái điều khiển xe mô tô về thành phố Ninh Bình. Khi đi đến khu vực đường Tôn Đức Thắng, phố 11, phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình thì gặp tổ công tác Công an phường Thanh Bình phối hợp với công an phường Đông Thành, thành phố Ninh Bình đang làm nhiệm vụ thấy B có nhiều biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra hành chính. Thấy vậy, B đã tự giác giao nộp gói ma túy đang cầm ở tay trái giao nộp cho tổ công tác và khai nhận đây là số ma túy B vừa mua để sử dụng. Tổ công tác niêm phong vật chứng, đồng thời đưa Trần Văn B cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Thanh Bình lập biên bản vi phạm hành chính. Thu giữ của B 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng bên trong là chất bột dạng cục màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Jiulong BKS 28N1-0527 cùng Đăng ký xe mang tên Quách Đình N.

Tiến hành cân xác định trọng lượng 01 gói nhỏ ma túy được gói bên ngoài bằng giấy bạc màu trắng thu giữ của Trần Văn B, có trọng lượng là 0,02 gam, ký kiệu M gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 131/KLGĐ-PC54-MT ngày 24/5/2017 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng ký hiệu M có khối lượng 0,0208 gam là chất ma túy loại Heroine.

Heroine là chất ma túy thuộc Danh mục I. STT: 20, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Tổng trọng lượng Heroine Trần Văn B cất giữ là 0,0208 gam.

Quá trình điều tra Trần Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số 112/CT-VKS ngày 11/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trần Văn B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Khoản 1, Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình giữ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng Khoản 1, Điều 194; điểm o, điểm p, khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; Khoản 3, Điều 7; Khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt Trần Văn B từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2017.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 76 Bộ Luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy giấy gói ban đầu thu giữ của Trần Văn B.

- Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của bị cáo.

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản vi phạm hành chính; Biên bản thu giữ và niêm phong vật chứng; kết luận giám định và phù hợp với lời khai của người làm chứng. Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xác định bị cáo Trần Văn B có hành vi cất giữ trong người 0,0208 gam heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân, đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, là một trong những nguyên nhân làm lây lan, gia tăng các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Bị cáo Bình là người đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức rõ được tác hại của ma túy, nhưng vì bản chất ham chơi, bị cáo đã đã có hai tiền án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và đã bị đưa vào trung tâm chữa bệnh bắt buộc. Song bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân, không quyết tâm cai nghiện ma túy để chăm lo cuộc sống bản thân và gia đình. Do đó, buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự và phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung. Buộc bị cáo phải chịu mức hình phạt tù cách ly xã hội một thời gian tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết sau đây: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; khi bị yêu cầu kiểm tra hành chính bị cáo đã tự giác giao nộp gói ma túy vừa mua cho cơ quan Công an. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm o, điểm p, Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Mặt khác cần áp dụng những qui định có lợi cho người phạm tội theo qui định của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung: Tại khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định mức hình phạt từ 01 năm đến 05 năm nhưng tại khoản 1, Điều 194 luật hình sự năm 1999 quy định mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm. Do vậy, cần áp dụng khoản 3, Điều 7; khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội để xem xét quyết địnhtrách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Trần Văn B tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, không mang mục đích vụ lợi, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo B.

Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo Trần Văn B khai mua của một người nam thanh niên không quen biết tại khu vực xã Yên Bằng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, không đủ căn cứ để xác minh làm rõ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Số ma túy còn lại cùng giấy gói ban đầu thu giữ của Trần Văn B là vật Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu, tiêu huỷ.

Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Jiulong BKS 28N1-0527 cùng Đăng ký xe mang tên Quách Đình N thu giữ của Trần Văn B, quá trình điều tra xác định là của anh Trần Văn Đ, sinh năm 1983, trú tại thôn T, xã Y, huyện H, tỉnh Ninh Bình (Là em trai của Trần Văn B) mua lại của anh Quách Đình N, sinh năm 1985, trú tại xóm G, xã B, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Ngày 23/5/2017 B mượn xe mô tô trên đi mua ma túy, anh Đ không biết. Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Ninh Bình trả lại chiếc xe trên cho anh Đ là chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1, Điều 194; điểm o, điểm p, Khoản 1, Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999; khoản 3, Điều 7; khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung 2017; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội.

Xử phạt bị cáo Trần Văn B 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/5/2017.

2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự; Điều 76 Bộ Luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong theo quy định của pháp luật.

(Chi tiết vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao vật chứng ngày 28/8/2017 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Ninh Bình).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 99 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2003; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Văn B phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 15/9/2017.

 “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


48
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về