Bản án 108/2019/HSST ngày 30/07/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

A ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 108/2019/HSST NGÀY 30/07/2019 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH THAM GIA GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Hôm nay, ngày 30 tháng 7 năm 2019. Tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2019/HSST ngày 10 tháng 7 năm 2019; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2019/QĐ-HSST ngày 17 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: VŨ VĂN M. Sinh ngày 11 tháng 7 năm 1972. Nơi sinh: Hà Nội. Nơi ĐKNKTT: Thôn B, xã L, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng. Chỗ ở: Thôn B, xã L, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng. Nghề nghiệp: Buôn bán. Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Con ông: Vũ Văn T, sinh năm 1922. Hiện ở tại: Thôn B, xã L, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng; Con bà: Nguyễn Thị H (chết). Vợ: Ngô Thị Hòa, sinh năm 1978, có 01 con, sinh năm 2001. Hiện ở tại: 22/1 - Tổ B, Khu phố S, xã T, Quận H, Thành phố Hồ Chí M. Tiền án, tiền sự: Không. Bị bắt ngày 26/3/2019, Trả tự do ngày 14/5/2019. Hiện bị cáo đang đang tại ngoại tại: Thôn B, xã L, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng. Có mặt.

Người bào chữa :

Luật sư Vũ Thành N - Văn phòng luật sư V thuộc Đoàn luật sư tỉnh Lâm Đồng bào chữa cho bị cáo Vũ Văn M. Có mặt.

Người bị hại :

1/ Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1989 (chết).

2/ Anh Nguyễn Anh K, sinh năm 1989. Hộ khẩu thường trú tại: Thôn C, xã L, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng. Vắng mặt.

Đại diện hợp pháp của người bị hại :

Anh Nguyễn Văn KH, sinh năm 1987. Hộ khẩu thường trú tại: Thôn N, thị trấn N, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng, là anh ruột của chị Nguyễn Thị H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Văn M là người đã có Giấy phép lái xe hạng B2, do Sở giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí M cấp ngày 04/02/2013, có giá trị đến ngày 04/02/2023 và đang lái xe, loại xe 5 chỗ ngồi của gia đình. Khoảng 18 giờ 30 ngày 08/11/2018, M điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 51F-905.50 đi từ xã Gia Lâm, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng lên thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng để viếng đám tang. Khoảng 19 giờ cùng ngày, khi đang đi trên Đèo Tà Nung, đường ĐT.725 thuộc địa phận xã Tà Nung, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng, khi cho xe qua khúc cua bên phải theo chiều đi của M, M đã cho xe lấn sang phần đường bên trái để vào cua. Khi xe đang vào cua thì M phát hiện ở phần đường ngược chiều có 01 xe mô tô do anh Nguyễn Anh K điều khiển, phía sau có chở theo bạn gái là chị Nguyễn Thị H. Do khoảng cách quá gần nên M không xử lý kịp, xe ô tô do M điều khiển đã tông trực diện vào xe mô tô của anh K, làm cho xe mô tô đổ trượt trên mặt đường, anh K và chị H té ngã xuống đường. Sau khi gây tai nạn, Vũ Văn M đón xe ô tô khác để chở anh K và chị H đi cấp cứu, sau đó M rời khỏi hiện trường và về nhà, đến sáng ngày 09/11/2018, M đến Cơ quan Công an trình báo và khai nhận tòan bộ sự việc.

Đối với chị Nguyễn Thị H, sau khi cấp cứu, do tH tích nặng nên được chuyển về Bệnh viện Chợ Rẫy, Thành phố Hồ Chí M để điều trị tiếp. Đến ngày 23/12/2018 chị H tử vong.

Đối với anh Nguyễn Anh K, sau cấp cứu được điều trị tại Bệnh viện đa K tỉnh Lâm Đồng, đến ngày 04/12/2018 thì xuất viện.

Tại Biên bản khám nghiệm hiện trường xác định: Đoạn đường xảy ra tai nạn giao thông là đường đèo, mặt đường rộng 6m30, có dải phân cách mềm, liền vạch chia mặt đường thành 02 làn xe chạy ngược chiều nhau. Chọn mép đường bên trái theo hướng từ xã Tà Nung về thành phố Đà Lạt làm chuẩn.

- Vết cày của xe mô tô biển kiểm soát 49D1-512.06 sau tai nạn nằm trên mặt đường, tại vị trí gờ giảm tốc, dài 1,90 mét, điểm cuối vết cày cách mép đường trái 02,25 mét. Xe mô tô sau tai nạn nằm trên mặt đường, bị ngã về bên trái, đầu xe chếch về lề phải. Tâm bánh trước cách mép đường trái 5,50 mét, tâm bánh sau cách mép lề trái 4,80 mét.

- Vị trí vết chà của bánh xe ô tô biển kiểm soát 51F-905.50 hằn trên mặt đường dài 15,05 mét. Xe ô tô sau tai nạn nằm trên mặt đường, đầu xe quay về hướng Đà Lạt, tâm bánh sau bên trái xe ô tô cách mép đường trái 3,37 mét, tâm bánh trước bên trái cách mép lề trái 03,20 mét, tâm bánh sau bên phải cách lề phải 3,70 mét.

Tại kết luận giám định số 18/GĐ-PC09 ngày 18/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định: Tổ hợp các vết va chạm nằm phía trước của xe ô tô hướng từ trước ra sau, chếch từ trái qua phải xe, phù hợp với tổ hợp các vết va chạm của xe mô tô, hướng từ trước ra sau. Xe ô tô và xe mô tô lúc va chạm đang đi ngược chiều nhau. Vùng va chạm đầu tiên giữa hai xe nằm trên mặt đường, thuộc phần đường lưu thông của xe mô tô.

Theo kết luận giám định pháp y về tử thi số 04/2019/GĐHS ngày 17/02/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: Nguyên nhân chết của chị Nguyễn Thị H là do: suy hô hấp, trụy tim mạch do đa chấn tH (chấn tH sọ não, đã mổ lấy máu tụ và gãy xương đùi trái) do tai nạn giao thông. Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo Vũ Văn M đã thăm viếng, chia buồn và hỗ trợ chi phí chữa trị vết tH, mai táng cho gia đình chị Nguyễn Thị H bằng số tiền 365.000.000 đồng. Anh Nguyễn Văn KH, là anh ruột chị H đã nhận tiền và có đơn bãi nại cho bị cáo.

Tại kết luận giám định số 30/2019/TgT ngày 26/02/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận: Tỷ lệ tH tích của anh Nguyễn Anh K là 47%. Bị cáo Vũ Văn M đã bồi thường cho anh K 130.000.000 đồng, anh K không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 05/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố Vũ Văn M về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn M khai nhận vào tối ngày 08/11/2018, trong khi điều khiển xe ô tô trên đường Đèo Tà Nung để đi thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng bị cáo đã có hành vi cho xe vào cua bên phải nhưng không chú ý quan sát đường và đã cho xe lấn sang phần đường của xe ngược chiều để vào cua, đã gây tai nạn với người đi xe mô tô trên phần đường ngược chiều, làm chị Nguyễn Thị H chết và anh Nguyễn Anh K bị tH với các hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung bản Cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn M đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án, không có nội dung gì thay đổi, hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 và điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Vũ Văn M từ 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng. Phần bồi thường: Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường thỏa đáng cho gia đình người bị hại và người bị hại, đến nay Đại diện gia đình người bị hại và người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét để giải quyết tiếp phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra đã xử lý, phần còn lại đề nghị Hội đồng xét xử xem xét và xử lý theo qui định của pháp luật.

Bị cáo và người bào chữa không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại và Đại diện gia đình người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được tiến hành hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Văn M: Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức, bị cáo biết rất rõ việc điều khiển xe ô tô chạy trên đường đèo vào buổi tối là đường nguy hiểm, nhiều cua ngoặt, khuất tầm nhìn nhưng bị cáo khi cho xe vào cua vẫn cho xe lấn sang phần đường của xe ngược chiều và không chú ý quan sát, đã vi phạm vào khoản 1 điều 9 và điều 13 Luật giao thông đường bộ, gây tai nạn nghiêm trọng, làm 01 người chết và 01 người bị tH với tỷ lệ tH tật 47%, là hành vi trái pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trái pháp luật đến trật tự an toàn giao thông đường bộ và gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa pH, lỗi gây ra tai nạn chủ yếu thuộc về bị cáo. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Có đủ căn cứ kết luận bị cáo Vũ Văn M đã phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm đối với bị cáo được qui định tại điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 như Cáo trạng truy tố và kết luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tình tiết định khung hình phạt: Xét hành vi của bị cáo không vi phạm vào các tình tiết định khung tăng nặng nào tại điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 nên bị cáo chỉ bị xét xử theo điểm a khoản 1 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng nào theo qui định tại điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015.

Bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, sau khi gây tai nạn, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đã bồi thường thỏa đáng cho gia đình người bị hại và được người bị hại cùng đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Về phía anh Nguyễn Anh K cũng có một phần lỗi là điều khiển xe có dung tích xy lanh trên 50 cm3 nhưng không có Giấy phép lái xe, góp phần để gây ra tai nạn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm ổn định, phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình phạt, chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát, giáo dục của Chính quyền địa pH và gia đình cũng có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường thỏa đáng cho người bị hại và gia đình người bị hại đã chết. Đến nay người bị hại và Đại diện gia đình người bị hại đã chết không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét để giải quyết tiếp.

Về xử lý vật chứng: Các loại vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra vụ án, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã có quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại xe ô tô và giấy tờ xe; trả lại xe mô tô cho chủ sở hữu nên không xem xét để xử lý tiếp. Riêng 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 mang tên Vũ Văn M, là giấy tờ tùy thân của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] . Tuyên bố bị cáo Vũ Văn M phạm tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.

[2] . Áp dụng điểm a khoản 1 điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 và điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Vũ Văn M 18 (Mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Vũ Văn M cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện Lâm Hà, Lâm Đồng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Chính quyền địa pH trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo có sự thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách án treo thì việc thi hành án sẽ được thực hiện theo qui định tại khoản 4 điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách án treo, bị cáo có trách nhiệm phải thực hiện các nghĩa vụ đối với người được hưởng án treo theo qui định của Luật thi hành án hình sự. Nếu bị cáo cố ý vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ từ 02 lần trở lên, bị cáo có thể sẽ bị Tòa án Quyết định không cho hưởng án treo nữa mà buộc phải thi hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo tại Trại giam.

[3] . Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, trả lại cho bị cáo: 01 Giấy phép lái xe hạng B2, số AY 211012 mang tên Vũ Văn M.

(Vật chứng có đặc điểm cụ thể theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/7/2019 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt).

[4] . Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về lệ phí, án phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đại diện gia đình người bị hại và người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 108/2019/HSST ngày 30/07/2019 về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ

Số hiệu:108/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đà Lạt - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 30/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về