Bản án 108/2019/HNGĐ-ST ngày 29/08/2019 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MỸ THO, TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 108/2019/HNGĐ-ST NGÀY 29/08/2019 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 29 tháng 8 năm 2019, tại Toà án nhân dân thành phố Mỹ Tho tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình đã thụ lý số: 472 /2019/TLST-HNGĐ ngày 03/7/2019 về việc tranh chấp “Xin ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2019/QĐXX-ST ngày 05/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2019/QĐST-HNGĐ ngày 20/8/2019 giữa các đương sự:

1/ Nguyên đơn: Chị Lâm Ngọc P, sinh năm: 1989 (có mặt).

Đa chỉ: 57/69, đường L, phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

2/ Bị đơn: Anh Văn Thành L, sinh năm: 1987 (vắng mặt).

Đa chỉ: 7/4, đường H, phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án chị Lâm Ngọc P trình bày:

Chị và anh L tìm hiểu, chung sống với nhau năm 2005, có đăng ký kết hôn năm 2007, tại UBND phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, vợ chồng chung sống không hạnh phúc đến năm 2016, thì mâu thuẫn trầm trọng do tôi và anh L bất đồng quan điểm về vấn đề tình cảm và tiền bạc. Vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2017 cho đến nay. Năm 2018 chị và anh L có nộp đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn nhưng khi Tòa án mời giải quyết thì anh L không đến nên Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Văn Thành L.

Con chung: Có 01 cháu Văn Thành Đ, sinh ngày 18/10/2005, hiện nay chị đang nuôi con, khi ly hôn chị yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Văn Thành L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh L không đến Tòa án tham gia các phiên họp, đồng thời cũng không cung cấp văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án xem xét.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán tuân thủ đúng quy định của pháp luật như tiến hành xác minh, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xác minh, tống đạt các văn bản tố tụng đúng pháp luật. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa tại phiên tòa tuân thủ đúng quy định pháp luật, các đương sự tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa tuân thủ đúng qui định pháp luật. bị đơn không tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Tóm tắt và nhận định nội dung vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lâm Ngọc P; Con chung: Giao cho chị P tiếp tục nuôi cháu Văn Thành Đ sinh ngày 18/10/2005, chị P không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết; tài sản chung, nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp giữa chị Lâm Ngọc P và anh Văn Thành L là tranh chấp “Xin ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang.

[2] Tại phiên tòa chị Lâm Ngọc P yêu cầu ly hôn với anh Văn Thành L;

Con chung Con chung: Có 01 cháu Văn Thành Đ, sinh ngày 18/10/2005, hiện nay chị đang nuôi con, khi ly hôn chị yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.; Tài sản chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Nợ chung không có.

[3] Tại phiên tòa anh Văn Thành L đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh L không đến dự phiên tòa để trình bày ý kiến cho Hội đồng xét xử xem xét. Căn cứ khoàn 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Văn Thành L.

Xét các yêu cầu của các đương sự:

[1] Chị Lâm Ngọc P và anh Văn Thành L chung sống với nhau năm 2005, có đăng ký kết hôn năm 2007 tại UBND phường B, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2016, thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không hợp tính tình, không tin tưởng nhau trong tiền bạc, năm 2018 anh chị có đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh L không đến giải quyết, Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án, vợ chồng sống không hạnh phúc thường xuyên cải vã nhau, vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Xét thấy chị P và anh L chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2016, thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và tiền bạc, chị P về bên gia đình bên chị sống từ năm 2017 cho đến nay. Năm 2018 thì anh chị có làm đơn yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn, anh L không đến giải quyết nên Tòa án ban hành quyết định đình chỉ số 146/2019/QĐST-HNGĐ ngày 20/10/2018, nhưng từ đó đến nay anh chị sống ly thân nhau, anh chị không liên lạc gặp nhau để trao đổi đưa ra biện pháp để vợ chồng đoàn tụ. Tại phiên tòa chị P yêu cầu ly hôn anh L. Anh L không đến dự phiên tòa coi như anh từ bỏ ý kiến của mình. Hội đồng xét xử xét thấy tình cảm giữa chị P với anh L không thể kéo dài, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị P yêu cầu ly hôn với anh L là có cơ sở và phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lâm Ngọc P.

[2] Về con chung: Có 01 con Văn Thành Đ, sinh ngày 18/10/2005, hiện nay chị P đang nuôi con, khi ly hôn chị P yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy cháu Đ từ nhỏ sống gần với chị P được chị P chăm sóc cho ăn mặc học hành, đưa rước đi học chu đáo cũng như nguyện vọng của cháu Đạt sau khi cha mẹ ly hôn cháu muốn sống với mẹ, để cho cháu Đ có cuộc sống ổn định không xáo trộn và ảnh hưởng đến tâm lý tư tưởng của cháu Đ. Khi ly hôn chị P yêu cầu trực tiếp nuôi chát Đ là phù hợp với quy định của Pháp luật.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy chị P là người trực tiếp nuôi cháu Đ, nhưng tại phiên tòa chị P không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[4] Về tài sản chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Về nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết [6] Về án phí HNGĐ-ST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bà Lâm Ngọc P phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a, khoản 1 Điều 39; Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Xử :

1/ Chp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lâm Ngọc P.

- Về hôn nhân: Chị Lâm Ngọc P được ly hôn với anh Văn Thành L.

- Về con chung: Giao cho chị Lâm Ngọc P trực tiếp nuôi Văn Thành Đ sinh ngày 18/10/2005. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi cháu Đ.

Anh L có quyền đến trông nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

Về tài sản chung: Không có.

- Về nợ chung: Không có.

2/ Về án phí HNGĐ-ST: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chị Lâm Ngọc P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị P đã nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000046 ngày 03/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.

3/ Chị Lâm Ngọc P có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Văn Thành L có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 108/2019/HNGĐ-ST ngày 29/08/2019 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:108/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Mỹ Tho - Tiền Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về