Bản án 108/2019/HNGĐ-ST ngày 28/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 108/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/06/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 28 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Ph xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 114/2019/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2019 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2258/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1990; nơi cư trú: Số 35, tổ 3A, phường Hải Th, quận Dương K, thành phố Hải Ph. Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Chị Vương Hồng L, sinh năm 1991; nơi ở: 3572 Moscrop St. Voncouver BC, V5R5N8 (Canada). Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, các bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn Tr trình bày:

Anh và chị Vương Hồng L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Đ vào ngày 19 tháng 11 năm 2012. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng anh hạnh phúc, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng anh không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Năm 2018, chị Vương Hồng L đã bỏ đi nước ngoài sinh sống, làm việc, không quay về Việt Nam, cũng không liên lạc về nhà, không hỏi han con cái. Vì vậy, mẫu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hòa giải được nữa. Đến nay nhận thấy tình cảm không còn và không còn khả năng đoàn tụ nên anh Nguyễn Văn Tr làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Vương Hồng L.

Về con chung: Anh và chị Vương Hồng L có 01 con chung là cháu Nguyễn Trung Anh, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2014. Do chị L đang sống tại Canada nên anh Tr đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trung Anh, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai của chị Vương Hồng L trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn Tr kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Đ vào ngày 19 tháng 11 năm 2012. Quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng anh hạnh phúc, đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống. Năm 2018, chị Vương Hồng L đi Canada làm việc, sinh sống. Vì thế mẫu thuẫn giữa hai vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hòa giải được nữa. Nay anh Nguyễn Văn Tr đã nộp đơn ly hôn với chị tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Ph thì chị đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn Tr có 01 con chung là cháu Nguyễn Trung Anh, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2014. Do chị L đang sống tại Canada nên chị đồng ý để anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trung Anh. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, hai anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Tr vắng mặt và đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Tr vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với chị Vương Hồng L. Bị đơn chị Vương Hồng L vắng mặt nhưng đã có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Văn Tr có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Hải Ph giải quyết việc ly hôn với Chị Vương Hồng L, chị Vương Hồng L hiện đang cư trú tại Canada. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 469, Điều 470 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Ph.

[2] Anh Nguyễn Văn Tr là nguyên đơn và chị Vương Hồng L là bị đơn trong vụ án đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều đã có ý kiến yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Ph tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Tr và chị Vương Hồng L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 19 tháng 11 năm 2012 tại UBND thị trấn Cổ Lê, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Đ. Theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[4] Anh Nguyễn Văn Tr và chị Vương Hồng L thống nhất nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách không hợp, không còn tình cảm và yêu thương lẫn nhau, chị L sang Canada sinh sống, làm việc, không trở về Việt Nam, hai bên đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, chị L không trở về Việt Nam, không liên lạc thăm hỏi, quan tâm đến gia đình. Xét việc anh Nguyễn Văn Tr và chị Vương Hồng L cùng thuận tình ly hôn là tự nguyện do mục đích hôn nhân không đạt được, phù hợp quy định tại Điều 55 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Văn Tr và chị Vương Hồng L theo quy định khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Trung Anh, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2014. Do chị L đang sống tại Canada và anh Tr cũng yêu cầu được nuôi con nên giao cháu Trung Anh cho anh Tr trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, hai anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét. .

[6] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Tr phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, Điều 55 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 151, Điều 152, Điều 153, Điều 154, khoản 1 Điều 228, Điều 273, Điều 469, Điều 470, điểm b khoản 5 Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Tr và chị Vương Hồng L được ly hôn.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Trung Anh, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2014 cho anh Nguyễn Văn Tr nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Tiền cấp dưỡng nuôi con hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án xem xét.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn Tr và chị Vương Hồng L không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn Tr phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số AA/2016/0001850 ngày 29 tháng 5 năm 2019 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Ph. Anh Nguyễn Văn Tr đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Anh Nguyễn Văn Tr được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Chị Vương Hồng L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng tính từ ngày nhận được bản án.

6. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 108/2019/HNGĐ-ST ngày 28/06/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:108/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:28/06/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về