Bản án 106/2020/HNGĐ-ST ngày 31/12/2020 về ly hôn 

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 106/2020/HNGĐ-ST NGÀY 31/12/2020 VỀ LY HÔN 

Ngày 31 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 461/2020/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2020 về việc Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 30/2020/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Linh P, sinh năm 1988;

Hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã B, huyện M, tỉnh Bến Tre; tạm trú: Số A, khu phố B, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt

- Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh T, sinh năm 1972;

Địa chỉ: Số A, đường B, tổ C, phường HT, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/7/2020 (nộp tại Tòa án ngày 18/9/2020) và quá trình giải quyết, bà Nguyễn Thị Linh P là nguyên đơn trình bày:

Bà Pvà ông Nguyễn Mạnh T tự nguyện tìm hiểu và kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường HT, thành phố T, tỉnh Bình Dương ngày 18/10/2011. Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T ham chơi, không chăm lo cho gia đình. Bà P đã khuyên nhủ ông T nhiều lần, nhưng ông T vẫn không sửa đổi, dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, tình cảm vợ chồng rạn nứt, hôn nhân không hạnh phúc. Hiện nay, Bà P và ông T không còn chung sống với nhau.

Nay Bà P xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà không thể tiếp tục chung sống với ông T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Mạnh T. Về con chung, Bà P xác định giữa bà với ông T không có con chung. Về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 11/12/2020, Bà P có đơn xin giải quyết vắng mặt và xác định vẫn giữ yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Mạnh T.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện tống đạt trực tiếp cho bị đơn ông Nguyễn Mạnh T các văn bản tố tụng gồm Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa sơ thẩm. Đến ngày 23/12/2020, ông T có văn bản trình bày ý kiến với nội dung: không có sự việc gì quan trọng. Đồng thời, ông T có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Tòa án cho đến khi kết thúc vụ án.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi khai mạc phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Đối với bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử, nhưng bị đơn đều vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Kiểm sát viên không kiến nghị khắc phục hay bổ sung gì khác.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Linh P đối với bị đơn ông Nguyễn Mạnh T về việc ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Ngày 11/12/2020, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Linh P có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Ngày 23/12/2020, bị đơn ông Nguyễn Mạnh T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ quy định tại các Điều 227, 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Linh P và ông Nguyễn Mạnh T tự nguyện kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường HT, thành phố T, tỉnh Bình Dương; theo Giấy chứng nhận kết hôn số 129, quyển số 02, ngày 18/11/2011 của Ủy ban nhân dân phường HT là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Nguyên đơn xác định quá trình chung sống, giữa Bà P và ông Nguyễn Mạnh T đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không thể giải quyết được. Vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, hôn nhân không có hạnh phúc. Do mâu thuẫn vợ chồng đã quá trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống với nhau nên từ đầu năm 2020, bà P đã ra ngoài thuê nhà trọ sinh sống và nộp đơn xin ly hôn với ông T tại Tòa án. Quá trình giải quyết, Bà P xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà và ông T không thể hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Do đó, Bà Pvẫn giữ yêu cầu được ly hôn với ông T. Về phía bị đơn ông Nguyễn Mạnh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhưng đều vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến gì trước yêu cầu khởi kiện của bà Phương. Đến ngày 23/12/2020 ông T mới có đơn xin vắng mặt. Điều này thể hiện ông T không có thiện chí trong việc muốn hàn gắn và bảo vệ hạnh phúc gia đình.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà P và ông T đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Linh P đối với ông Nguyễn Mạnh T là có cơ sở để chấp nhận, quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Bà P trình bày quá trình chung sống, bà P và ông T không có con chung nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[5] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tố tụng và quan điểm giải quyết vụ án là có cơ sở.

[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 177, 227, 228, 235, 238, 266 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56 và Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Linh P đối với bị đơn ông Nguyễn Mạnh T về việc “Ly hôn”.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Linh P được ly hôn với ông Nguyễn Mạnh T.

- Về con chung: Đương sự khai không có nên không đặt ra xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

2. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Linh P phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ hết vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước đây theo biên lai thu số AA/2016 - 0050440 ngày 25/9/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T.

3. Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt nên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.


21
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 106/2020/HNGĐ-ST ngày 31/12/2020 về ly hôn 

Số hiệu:106/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Dầu Một - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:31/12/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về