Bản án 106/2020/HNGĐ-ST ngày 12/11/2020 về tuyên bố không công nhận là vợ chồng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

BẢN ÁN 106/2020/HNGĐ-ST NGÀY 12/11/2020 VỀ TUYÊN BỐ KHÔNG CÔNG NHẬN LÀ VỢ CHỒNG

Ngày 12 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 809/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2020 về việc “Yêu cầu không công nhận là vợ chồng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 125/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1955:

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1959:

Cùng địa chỉ: Số 452 đường T, phường 8, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn ông Nguyễn Xuân T trình bày:

Ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1989 nhưng không đăng ký kết hôn và cho đến hôm nay ông bà vẫn chưa đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống, hai bên hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính cách không phù hợp nên thường xuyên tranh cãi. Đầu năm 2020, bà H có nộp đơn ly hôn được Tòa động viên bà H rút đơn về. Tuy nhiên cuộc sống vợ chồng không thay đổi, mâu thuẫn càng trầm trọng. Nay ông T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Tòa án không công nhận ông và bà Nguyễn Thị H là vợ chồng.

Về con chung: Ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H có hai con chung là Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh năm 1989 và Nguyễn Thanh B, sinh năm 1994. Các con chung đã trưởng thành, tự quyết định được cuộc sống.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Về thời gian chung sống, điều kiện chung sống bà H thống nhất với lời trình bày của ông T. Cuộc sống chung bà H cho rằng khoảng năm 2016 phát sinh mâu thuẫn vì ông T có người phụ nữ khác nên tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy bà H nhất trí đề nghị Tòa án không công nhận bà và ông Nguyễn Xuân T là vợ chồng.

Về con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông T có hai con chung là Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh năm 1989 và Nguyễn Thanh B, sinh năm 1994. Hiện tại các con chung đã trưởng thành, tự quyết định được cuộc sống.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu phát biểu quan điểm:

 Về việc tuân theo pháp luật về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, những người tiến hành tố tụng và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Các đương sự đang cư trú tại thành phố V nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự, các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp có đủ căn cứ xác định ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 1989. Tại thời điểm chung sống ông T, bà H có đủ điều kiện kết hôn nhưng cả hai đã không đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do vậy, ông T và bà H đã có thời gian dài chung sống với nhau và có hai con chung, nhưng căn cứ các Điều 9, 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 3 Thông tư Liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC- BTP ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình thì không xác định ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H là vợ chồng. Vì vậy, việc ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án không công nhận là vợ chồng là có căn cứ cần chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H có hai con chung là Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh năm 1989 và Nguyễn Thanh B, sinh năm 1994 đều đã trưởng thành, tự quyết định được cuộc sống.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Do đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Do ông T là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự là 300.000 đồng. Tuy nhiên ông T hiện đã trên 60 tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 9, 14, 15 và 53 Luât Hôn nhân và gia đinh.

- Khoản 4 Điều 3 Thông tư Liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BTP ngày 06-01-2016 của Tòa án nhân dân Tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao, Bộ Tư Pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình:

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Xuân T đối với bà Nguyễn Thị H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H là vợ chồng.

2. Về con chung: Ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H có hai con chung là Nguyễn Thị Quỳnh A, sinh năm 1989 và Nguyễn Thanh B, sinh năm 1994 đều đã trưởng thành, tự quyết định được cuộc sống.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí: Ông Nguyễn Xuân T phải nộp 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, do ông Nguyễn Xuân T là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 12-11-2020. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

6. Về quyền yêu cầu thi hành: Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


26
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về