Bản án 106/2020/HNGĐ-ST ngày 01/09/2020 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

BẢN ÁN 106/2020/HNGĐ-ST NGÀY 01/09/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 01 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân & Gia đình sơ thẩm thụ lý số: 253/ 2020/ TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2020, về việc “ Tranh chấp ly hôn và nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 7 năm 2020 Quyết định hoãn phiên tòa số 86/2020/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Hồng H, sinh năm 1986.

Địa chỉ: ấp T, xã Q, huyện H, tỉnh L Bị đơn: Anh Đặng Hiếu N, sinh năm 1985 ( Vắng mặt). Địa chỉ: ấp T, xã Q, huyện H, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN

-Theo đơn khởi kiện ngày 05 tháng 6 năm 2020 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn chị Huỳnh Thị Hồng H trình bày:

Vào năm 2005 qua quen biết chị và anh Đặng Hiếu N tự nguyện tiến tới hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh L vào ngày 14/9/2007. Sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc và có 02 con chung, sau khi cưới anh chị ra sống riêng, còn chị và anh N đi làm ở Khu công nghiệp Hòa Phú, do anh N lo ăn chơi, số đề, đá gà, nhậu nhẹt nên mượn nợ bên ngoài rất nhiều không có khả năng trả nợ, chủ nợ đến nhà đòi nợ mỗi ngày. Sau đó anh N đi làm hồ, thường xuyên uống rượu về kiếm chuyện với chị, đi làm có tiền bao nhiêu anh N lo ăn nhậu không lo gì cho vợ con, mọi cho tiêu trong gia đình do chị lo, do chủ nợ xiết nợ và không có tiền lo cho con đến năm 2019 chị xin anh N đi làm ở Bình Dương, anh N cũng đồng ý nhưng khi đi làm anh N thường xuyên gọi điện thoại dùng lời lẽ thô tục chửi, hăm dạo chị, vì con nên chị cố gắng chịu đựng nhưng mỗi lần về nhà là anh N kiếm chuyện, có lần còn lấy quần áo của chị đem ra đốt, nói là không cho vô nhà nữa. Anh chị đã ly thân từ năm 2019 đến nay, trong thời gian ly thân không ai quan tâm gì đến ai mạnh người nào người đó sống, mâu thuẩn nhưng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Tình cảm vợ chồng không còn nữa, chị yêu cầu được ly hôn với anh N.

Về con chung: Có 02 con chung tên Đặng Huỳnh Ánh T, sinh ngày 12/11/2007 và Đặng Huỳnh Trúc G, sinh ngày 06/8/2009, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết -Bị đơn anh Đặng Hiếu N vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án cũng không có bản khai ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng không có cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu, chứng cứ gì.

-Ý kiến của cháu Đặng Huỳnh Ánh T và cháu Đặng Huỳnh Trúc G: Hai cháu là còn ruột của anh N và chị H. Hiện tại 02 cháu đang sống chung với mẹ, sau khi cha mẹ ly hôn 02 cháu có nguyện vọng được tiếp tục chung sống với chị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn là anh Đặng Hiếu N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần 2 không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, chị Hoa có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt vì bận công việc không thể tham dự phiên tòa, các yêu cầu của chị được trình bày trong đơn xin vắng mặt ngày 27/8/2020. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh N, chị H.

[2]. Xét về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh N tiến đến hôn nhân trên cơ sở tự nguyện được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện H, tỉnh L cấp giấy chứng nhận kết số 71 vào ngày 17/9/2007. Do đó hôn nhân của chị H và anh N là hôn nhân hợp pháp.

[3]. Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Tại phiên tòa chị H vắng mặt nhưng trong đơn xin vắng mặt chị H vẫn yêu cầu được ly hôn với anh N, yêu cầu được nuôi 02 con, về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung chị không yêu cầu giải quyết. Trong các phiên hòa giải chị H trình bày trong thời gian chung sống giữa anh chị có nhiều mâu thuẩn không thể giải quyết, xuất phát từ những bất đồng trong cuộc sống, do anh N không quan tâm chăm sóc vợ con làm cho mâu thuẩn ngày càng trầm trọng. Do không thể chung sống nên anh chị đã sống ly thân từ năm 2019.

Xét thấy vợ chồng phải có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, quan tâm chăm sóc, giúp đỡ nhau, chung sống với nhau. Nhưng chị H và anh N trong cuộc sống có những bất đồng, anh chị không còn chung sống, sự quan tâm và chia sẽ với nhau không có, cho thấy tình cảm vợ chồng của anh chị không còn, mục đích hôn nhân không đạt được.

Quá trình giải quyết vụ án anh N vắng mặt và cũng không có bản khai ý kiến đối với yêu cầu của chị H. Xem như anh N cũng đồng ý với với yêu cầu của chị H. Tại phiên tòa chị vẫn bảo lưu yêu cầu ly hôn với anh N. Việc chị H yêu cầu ly hôn với anh N là có căn cứ. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

[4]. Về con chung: Cháu Đặng Huỳnh Ánh T và cháu Đặng Huỳnh Trúc G hiện do chị H nuôi dưỡng. Chị H có yêu cầu được nuôi 02 con, nguyện vọng của cháu T và G là được tiếp tục chung sống cùng với mẹ. Do đó nên giao 02 con cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

[5]. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

[6]. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

[7]. Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết.

thẩm.

[8]. Về án phí: Buộc chị H phải nộp tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, 227, 228, 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 9, Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuy ên x ử :

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Huỳnh Thị Hồng H được ly hôn với anh Đặng Hiếu N.

2. Về con chung: Giao cháu Đặng Huỳnh Ánh T, sinh ngày 12/11/2007 và Đặng Huỳnh Trúc G, sinh ngày 06/8/2009 cho chị Huỳnh Thị Hồng H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Đặng Hiếu N có quyền tới lui thăm nom và chăm sóc con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

6. Về án phí: Buộc chị Huỳnh Thị Hồng H nộp 300.000 đồng ( Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai số 0005837 ngày 05 tháng 6 năm 2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ nên được khấu trừ.

7. Quyền kháng cáo: Án xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


32
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 106/2020/HNGĐ-ST ngày 01/09/2020 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

Số hiệu:106/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Long Hồ - Vĩnh Long
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:01/09/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về