Bản án 104/2019/HNGĐ-ST ngày 26/07/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B – TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 104/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/07/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 26 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 2766/2018/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2019/QĐXX-ST ngày 03 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 152/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28/6/2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị L, sinh năm 1974

Địa chỉ: KP3, P. D, TP. B, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1970

Địa chỉ: KP3, P. S, TP. B, tỉnh Đồng Nai

(Bà L có đơn xin vắng mặt, ông V vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Ngày 07/9/2018, bà Hồ Thị L nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân TP B giải quyết xin được ly hôn với ông Nguyễn Thanh V. Lý do xin ly hôn, theo Bà L trình bày: Năm 2001 bà và ông V tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân P. D, TP. B, tỉnh Đồng Nai. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng thời gian sau này thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã nhau, cuộc sống chung không thể hòa hợp do bất đồng quan điểm sống và không còn hạnh phúc. Nay Bà L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng không thể giải quyết được và ngày càng trở lên trầm trọng, nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết xin ly hôn với ông V.

Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn Hồ Loan Trang, sinh ngày 14/01/2003. Ly hôn Bà L có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu Trang, không yêu cầu ông V phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung: Bà L và ông V không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Bà L xác định không có.

Đi với bị đơn là ông Nguyễn Thanh V, trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã nhiều lần Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng ông V vẫn cố tình vắng mặt không lý do, nên Tòa án nhân dân TP B không tiến hành hòa giải được. Tại phiên tòa ông V vẫn vắng mặt nên không có lời khai.

* Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã thực hiện đúng, còn bị đơn không thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

- Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án:

Về hôn nhân: Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với ông V để tham gia hòa giải và tại phiên tòa hôm nay ông V vẫn vắng mặt không lý do, điều đó chứng tỏ ông V đã tự bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình, không còn tha thiết với việc hàn gắn đoàn tụ. Từ đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng Bà L, ông V đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thật sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà L, giải quyết cho Bà L được ly hôn với ông V để trả tự do cả hai.

Về con chung: Có một cháu Nguyễn Hồ Loan Trang, sinh ngày 14/01/2003, ly hôn Bà L yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Trang, đều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Trang muốn sống chung với Bà L. Do đó, ly hôn giao cháu Nguyễn Hồ Loan Trang, sinh ngày 14/01/2003 cho Bà L nuôi dưỡng, tạm thời ông V không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra để giải quyết bằng vụ án khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Bà L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Bà Hồ Thị L xin ly hôn với ông Nguyễn Thanh V có địa chỉ cư trú tại: 354/11/30, KP3, P. Tam Hiệp, TP. B, tỉnh Đồng Nai. Theo biên bản xác minh của công an P. Tam Hiệp cung cấp thông tin: Ông Vcó đăng ký thường trú tại địa chỉ 354/11/30, KP3, P. Tam Hiệp, TP. B, tỉnh Đồng Nai và hiện nay đang sinh sống tại địa chỉ trên. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân TP. B có thẩm quyền giải quyết.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn ông Nguyễn Thanh V, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử đến lần thứ hai, nhưng ông V vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

[3] Về quan hệ hôn nhân: bà Hồ Thị L và ông Nguyễn Thanh V chung sống với nhau vào năm 2001 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân P. Tam Hiệp (giấy chứng nhận kết hôn số 15, quyển 01, ngày 22/01/2001), theo quy định tại Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 nên xác định là hôn nhân hợp pháp.

Trong quá trình chung sống, theo Bà L trình bày vợ chồng chỉ sống hạnh phúc thời gian đầu, nhưng thời gian sau này thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã nhau, cuộc sống chung không thể hòa hợp do bất đồng quan điểm sống và không còn hạnh phúc. Qua kết quả xác minh tại địa phương nơi cư trú của bà Bà L và ông V thì được biết mâu thuẫn vợ chồng ông V và Bà L địa phương không nắm rõ do không có báo với địa phương. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ đối với ông V để tham gia hòa giải và tại phiên tòa hôm nay ông V vẫn vắng mặt không lý do, điều đó chứng tỏ ông V đã tự bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình, không còn tha thiết với việc hàn gắn đoàn tụ. Từ đó cho thấy tình trạng mâu thuẫn vợ chồng Bà L, ông V đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng thật sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của Bà L, giải quyết cho Bà L được ly hôn với ông V để trả tự do cả hai.

[4] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hồ Loan Trang, sinh ngày 14/01/2003 cho Bà L nuôi dưỡng, tạm thời ông V không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Theo Bà L trình bày tài sản chung không có; nợ chung không có. Tuy nhiên, do ông V vắng mặt tại phiên tòa, không có lời khai nên không có cơ sở để xem xét giải quyết. Do vậy, cần tách ra để giải quyết bằng vụ án khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bà L phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm.

[7] Đối với phần phát biểu của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân TP. B tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và ý kiến về việc giải quyết vụ án như trên. Xét thấy, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 266, 271, 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 9, Điều 11 và Điều 12, Điều 89, Điều 92, Điều 93 và Điều 94 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000;

Áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 131 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Điều 6; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

Tuyên xử: Chp nhận yêu cầu “Ly hôn” của bà Hồ Thị L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị L được ly hôn với ông Nguyễn Thanh V.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hồ Loan Trang, sinh ngày 14/01/2003 cho Bà L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm thời ông V không phải cấp dưỡng nuôi con. Vì không trực tiếp nuôi con nên ông V được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc giáo dục con không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con khi cần thiết, Bà L và ông V được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tách ra để giải quyết bằng vụ án khác khi các bên đương sự có yêu cầu.

4. Về án phí HNGĐ-ST: Bà Hồ Thị L phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B, theo biên lai thu số 009874 ngày 06/12/2018.

5. Bà Hồ Thị L và ông Nguyễn Thanh V được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.


60
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 104/2019/HNGĐ-ST ngày 26/07/2019 về ly hôn

Số hiệu:104/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 26/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về