Bản án 103/2019/HS-PT ngày 26/06/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 103/2019/HS-PT NGÀY 26/06/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 26 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2019/TLPT-HS ngày 27 tháng 05 năm 2019 đối với bị cáo Chu Đức T, do có kháng cáo của bị cáo Chu Đức T, bị hại Hoàng Văn Th đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 44/2019/HS-ST ngày 24/04/2019 của Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng cáo:

Chu Đức T, sinh năm 1989; Nơi ĐKTT: Thôn ỐN, xã ĐT, huyện YM, tỉnh Hưng Yên. Chổ ở: Khu phố 7, thị trấn DĐ, huyện PQ, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chu Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị C; Có vợ là Phạm Thị Lan A; con có 01 người sinh năm 2015; Tiền án: không; tiền sự: không; Nhân thân:

- Ngày 17/6/2008 bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã xóa án tích.

- Ngày 31/03/2009 bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 04 năm 03 tháng tù về tội “ Cưỡng đoạt tài sản” đã xóa án tích.

- Ngày 30/01/2013 bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” đã xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/9/2018 cho đến nay. (Có mặt)

- Bị hại có kháng cáo: Ông Hoàng Văn Th, sinh năm 1977 (Có mặt)

Địa chỉ: Số 20, lô 4, mặt bằng SD,quận HB, thành phố Hải Phòng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Năm 2015, Hoàng Văn Th mua thửa đất của bà Nguyễn Thị C trú tại ấp LB, xã CC, huyện PQ, tỉnh Kiên Giang, Thửa đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi mua xong Th giao lại cho gia đình anh Võ Văn C ở nhờ để trông coi. Khoảng 03 giờ sáng ngày 31/3/2018, có một số người đến nhà anh C hâm dọa và đuổi không cho anh C ở. Thấy vậy, anh C gọi điện báo cho Th biết nội dung sự việc nêu trên. Nghe vậy, Th kêu Hoàng Văn Đ và Trần Văn Ng đi cùng đến nhà anh C và điện cho Lâm Quốc Kh (là con bà C) kêu đi trình báo Công an xã Cửa Cạn.

Khong 07 giờ cùng ngày Đào Xuân L là người được Lg thuê đến rào thửa đất nêu trên, khi được Lg thuê thì L có thuê thêm một số người đến rào thửa đất trên nhưng Th ngăn cản không cho làm nên những người này báo lại cho L, L báo lại cho Lg nên Lg cùng với Chu Đức T, Đào Xuân L, T và M cùng với 03 người khác không rõ nhân thân cùng đi đến thửa đất đang tranh chấp. Khi đi Lg kêu T vào nhà Lg lấy 04 cây rựa quéo bỏ vào bao tải rồi mang ra để trong thùng xe bán tải và nói “Khi đến nơi nếu thấy ai ngăn cản thì đánh” được cả nhóm đồng ý. Lg điều khiển xe bán tải chở Th, L và T, còn M và những người khác đi xe Taxi. Đến nơi thấy có công an xã nên Lg kêu mọi người không mang hung khí theo, Lg vào hỏi ai là người ngăn cản không cho rào đất, thì Th lên tiếng nên Lg và Th cải nhau, M chạy đến ôm cổ Th rồi dùng tay đánh vào đầu một cái, Th vùng ra chạy vào nhà lấy một cây dao và một cây rựa quéo đứng trước nhà chuẩn bị đánh nhau với nhóm của Lg. Thấy vậy, Lg la lớn “Lấy đồ chém chết mẹ thằng Th đi”. Lúc này T chạy ra lấy bao tải đựng hung khí giao cho Th và L mỗi người một cây rựa. T lấy một cây rựa cùng với L và T xông vào chém Th thì Công an xã dùng súng bắn chỉ thiên và yêu cầu tất cả dừng lại nhưng nhóm của Lg không chấp hành. L và T xông vào chém liên tiếp vào người Th. L chém một nhát vào đầu làm cho Th ngã xuống đất, T cầm rựa chém vào người Th còn T thì cầm rựa chạy đến định chém thì Th chỉ tay nói “Tao nhớ mặt tụi mầy rồi” thấy Th chảy máu nhiều nên T không chém và cả nhóm của Lg lên xe về còn Th được mọi người đưa đi cấp cứu.

Tang vật vụ án thu giữ gồm: 01 USB, hiệu ADATA, 16GB, màu đen – đỏ; 01 USB, hiệu ANCO, màu xanh;

Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số: 232/KL-PY ngày 03/5/2018 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Kiên Giang đối với Hoàng Văn Th như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Sẹo xơ cứng vùng đỉnh trái gây mẽ bản sọ ngoài vùng đỉnh trái;

- Sẹo sơ cứng vùng khuỷu – cẳng tay trái và ngón II tay trái;

- Gãy xương đốt gần ngón II và III tay phải, hiện còn hạn chế vận động ngón II, III tay phải;

- Chấn thương phần mềm vùng gối trái, hiện không còn thấy dấu vết thương tích do đã thương.

2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do tổn thương gây nên hiện tại là 32%.

Tại Bản án sơ thẩm số: 44/2019/HSST ngày 24/4/2019 Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang:

Tuyên bố: Bị cáo Chu Đức T phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Chu Đức T 04 (Bốn) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/9/2018.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và báo quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/4/2019, bị cáo Chu Đức T có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt với lý do: Mức án quá cao so với hành vi phạm tội của bị cáo.

Ngày 06/5/2019, bị hại Hoàng Văn Th có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Chu Đức T với lý do: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo không phải là người trực tiếp gây thương tích cho bị hại.

Ti phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về tội danh của bị cáo là phù hợp. Về hình phạt, cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định xử phạt bị cáo 04 năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới là bồi thường thêm cho bị hại 50.000.000 đồng, bị hại cũng kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết mới nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo còn 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù, áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Chu Đức T và bị hại Hoàng Văn Th; sửa bản án sơ thẩm đã tuyên. Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Ti phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và bị hại vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Xét đơn kháng cáo của bị cáo và bị hại về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về quyết định của bản án sơ thẩm: Do mâu thuẫn về việc tranh chấp đất nên Chu Đức T đã cùng Lg, L và T, M và những người khác đi đến thửa đất Hoàng Văn Th mua. Đến nơi thì Lg và Th cải nhau, M chạy đến ôm cổ Th rồi dùng tay đánh vào đầu một cái, Th vùng ra chạy vào nhà lấy một cây dao và một cây rựa quéo đứng trước nhà chuẩn bị đánh nhau với nhóm của Lg. T chạy ra lấy bao tải đựng hung khí giao cho T và L mỗi người một cây rựa. T1 lấy một cây rựa cùng với L và T xông vào chém Th thì Công an xã dùng súng bắn chỉ thiên và yêu cầu tất cả dừng lại nhưng nhóm của Lg không chấp hành. L và T xông vào chém liên tiếp vào người Th. L chém một nhát vào đầu làm cho Th ngã xuống đất, T cầm rựa chém vào người Th còn T thì cầm rựa chạy đến định chém thì Th chỉ tay nói “Tao nhớ mặt tụi mầy rồi” thấy Th chảy máu nhiều nên T không chém và cả nhóm của L lên xe về còn Th được mọi người đưa đi cấp cứu. Hậu quả làm cho Hoàng Văn Th bị thương tích 32%. Do vậy Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc đã xử phạt bị cáo Chu Đức T về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Về yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và bị hại: Sau khi xét xử sơ thẩm xong bị cáo Chu Đức Th, bị hại Hoàng Văn Th kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Chu Đức T. Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo phạm tội trong vụ án này với vai trò đồng phạm tích cực với nhóm của L gây ra thương tích cho bị hại. Hành vi mang theo hung khí, bàn bạc thống nhất nếu ai ngăn cản thì đánh thể hiện sự quyết liệt phạm tội của bị cáo. Cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ bồi thường khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và tuyên mức án 04 năm tù là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo có cung cấp được việc bồi thường thêm cho bị hại 50.000.000 đồng. Bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ cho bị cáo cũng là tình tiết mới nên cần xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo và bị hại giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng là phù hợp.

[4] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Quan điểm đề nghị giảm nhẹ hình phạt của Viện kiểm sát là có cơ sở HĐXX chấp nhận.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo và bị hại được chấp nhận nên bị cáo và bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Chu Đức Th và bị hại Hoàng Văn Th; Sửa bản án sơ thẩm.

2. Áp dụng: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Chu Đức T 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 12/9/2018.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo và bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm số 44/2019/HSST ngày 24/4/2019 Tòa án nhân dân huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.


61
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 103/2019/HS-PT ngày 26/06/2019 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:103/2019/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Kiên Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/06/2019
Là nguồn của án lệ
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về