Bản án 103/2018/HSST ngày 24/07/2018 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

BẢN ÁN 103/2018/HSST NGÀY 24/07/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 24 tháng 7 năm 2018 tại Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2018 đối với các bị cáo:

1. Lê Minh H (Tên gọi khác: Cò) - Sinh năm 1993 tại Gia Lai. Nơi ĐKNKTT và cư trú: Thôn 3, xã D, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê M, sinh năm 1965 và bà Lê Thị S, sinh năm 1965; tiền án: 02 lần về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 74/2014/HSST ngày 19/5/2014 xử phạt 12 tháng tù và Bản án số 154/2015/HSST ngày 24/11/2015 xử phạt 24 tháng tù của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai; tiền sự: Không; bị tạm giam ngày 12/01/2018. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt.

2. Phạm Bá Th, sinh năm 1994 tại Gia Lai; nơi ĐKHKTT và cư trú: Tổ 13, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân L, sinh năm 1956 và bà Lê Thị Mỹ L, sinh năm 1962; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giam ngày 12/01/2018. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố P. Có mặt.

- Bị hại:

1. Chị Đoàn Thị Thanh D, sinh năm 1974; địa chỉ: Số 435 đường T, tổ 04, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Chị Trần Thị H, sinh năm 1978; địa chỉ: Hẻm 196 đường L, tổ 10, phường I, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Anh Huỳnh Ngọc N, sinh năm 1977; địa chỉ: Số 46 đường N, tổ 13, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

4. Bà Ninh Thị N, sinh năm 1965; địa chỉ: Tổ 02, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

5. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1993; địa chỉ: Số 455 đường N, tổ 13, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

6. Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1970; địa chỉ: Số 88 đường T, tổ 04, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

7. Chị Trần Thị Thu Tr, sinh năm 1983; địa chỉ: Số 86 đường L, tổ 03, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

8. Ông Trần Văn B, sinh năm 1965; địa chỉ: Số 08 đường M, tổ 13, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

9. Anh Nguyễn Bá N, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn 3, xã D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ 14, phường P, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

2. Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987; địa chỉ: Tổ 01, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1985; địa chỉ: Số 56 đường T, tổ 01, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Thành Tr, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 56 đường H, tổ 02, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

5. Anh Bùi Thế V, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ 07, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 9/2017 đến ngày 31/12/2017, tại địa bàn thành phố P, tỉnh Gia Lai, Lê Minh H đã thực hiện 07 vụ trộm cắp tài sản và cùng với Phạm Bá Th thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 12 giờ khoảng giữa tháng 9/2017 (không xác định được ngày), Lê Minh H đang đi bộ trên đường P, phường H, thành phố P thì gặp Phạm Bá Th nên H rủ Th đi trộm cắp tài sản, Th đồng ý. Sau đó, Th điều khiển xe mô tô biển số 81B1-244.21 đi dạo trên các tuyến đường ở thành phố P. Khi đi đến trước nhà chị Đoàn Thị Thanh D (sinh năm 1974, trú tại 435 đường T, tổ 04, phường C, thành phố P) thấy cửa mở, không có người trông coi nên H xuống xe nói Th ở ngoài cảnh giới, còn H đột nhập vào trong nhà theo lối cửa chính trộm cắp 01 tượng gỗ hình ông Phật Di lặc hai tay dâng đồng tiền, loại gỗ Pơ mu, màu vàng, kích thước (75 x 40 x 25)cm để ở góc phòng khách, rồi theo lối cũ ra ngoài. Sau đó, Th điều khiển xe chở H mang tượng gỗ trộm cắp được đến khu vực chợ nhỏ ở đường P, tổ 14, phường H, thành phố P, bán cho một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) được 800.000 đồng. Số tiền này, H và Th đã mua ma túy sử dụng chung hết. Do không xác định được người thanh niên đã mua tượng gỗ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không thu hồi được. Qua định giá, kết luận: Tượng gỗ hình ông Phật Di lặc hai tay dâng đồng tiền, loại gỗ Pơ mu có trị giá là 3.200.000 đồng. Hiện chị Đặng Thị Thanh D yêu cầu các bị cáo bồi thường.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 14 giờ ngày 24/9/2017, Lê Minh H mượn xe mô tô biển số 81B1-244.21 của Phạm Bá Th, rồi điều khiển xe chạy trên các tuyến đường ở thành phố P, mục đích tìm nhà ai sơ hở thì vào trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi ngang qua nhà chị Trần Thị H (sinh năm 1978, trú tại hẻm 196 đường L, tổ 10, phường I, thành phố P) thấy cửa nhà không khóa và không có người trông coi nên H dừng xe lại bên lề đường rồi đi bộ vào phòng khách. Tại đây, H thấy chiếc ti vi hiệu TCL, màn hình Led, 50 inch nên đến tháo dây điện mang chiếc ti vi ra xe, rồi điều khiển xe chạy đến tiệm điện thoại T ở Tổ 14, phường P, thành P và bán cho anh Nguyễn Thanh T (là chủ tiệm) được 4.000.000 đồng. Số tiền này, H đã mua ma túy sử dụng hết. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi đi chợ về phát hiện bị mất chiếc ti vi, chị H đã đến Công an phường I trình báo. Sau khi mua chiếc ti vi do H bán, anh T đã bán lại cho khách hàng (không rõ nhân thân, lai lịch) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không thu hồi được. Qua định giá, kết luận: Chiếc ti vi nhãn hiệu TCL L50D2700, màn hình LED 50 inch, màu đen, đã qua sử dụng, sau khi đã trừ khấu hao có trị giá là 6.900.000 đồng. Hiện chị Trần Thị H yêu cầu bị cáo Lê Minh H bồi thường cho chị theo quy định của pháp luật.

Vụ thứ ba: Khoảng 17 giờ vào thời gian đầu tháng 12/2017 (không xác định được ngày), Lê Minh H rủ đối tượng tên Hưng (không rõ nhân thân, lai lịch) đi trộm cắp tài sản, Hưng đồng ý. Sau đó, Hưng điều khiển xe mô tô hiệu Wave, màu xám (chưa rõ biển số) chở H đi dạo trên các tuyến đường ở thành phố P. Khi đi đến trước nhà anh Huỳnh Ngọc N (sinh năm 1977, trú tại số nhà 46 đường N, tổ 13, phường H, thành phố P) thấy cửa mở, không có người trông coi nên Hưng nói H đứng ngoài cảnh giới, còn Hưng đột nhập vào phòng khách nhà anh N trộm cắp 02 tượng gỗ hình lộc bình, loại gỗ Cẩm lai, màu nâu, kích thước (50 x 12)cm rồi đi ra. Sau đó, H điều khiển xe chở Hưng đến ngã ba Bưu điện tỉnh Gia Lai thì H xuống xe đứng đợi, còn Hưng điều khiển xe và đem hai tượng gỗ trộm cắp được đi bán được 400.000 đồng. Số tiền này, Hưng và H mua ma túy sử dụng chung hết. Hiện đối tượng Hưng chưa bắt được và không xác định được nhân thân, lai lịch của người đã mua tượng gỗ hình lục bình nêu trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chưa thu hồi được. Qua định gia, kết luận: 02 tượng gỗ hình lộc bình, loại gỗ Cẩm lai có trị giá là 2.500.000 đồng. Hiện anh Huỳnh Ngọc N yêu cầu bị cáo Lê Minh H bồi thường cho anh số tiền 2.500.000 đồng.

Vụ thứ tư: Khoảng 14 giờ vào thời gian đầu tháng 12/2017 (không xác định được ngày), Lê Minh H tiếp tục rủ đối tượng Hưng đi trộm cắp tài sản, Hưng đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 81B1-606.16 chở Hưng đi dạo trên các tuyến đường ở thành phố P. Khi đi đến trước nhà bà Ninh Thị N (sinh năm 1965, trú tại Tổ 02, phường C, thành phố P) thấy cửa mở, không có người trông coi. Lúc này, H dừng xe lại và đứng ngoài cảnh giới, còn Hưng đột nhập vào trong nhà theo lối cửa chính trộm cắp 03 tượng gỗ hình ông Phúc - Lộc - Thọ, loại gỗ Hương, màu nâu, kích thước (40 x 15 x 12)cm để trên kệ gỗ phòng khách, rồi theo lối cũ ra ngoài. Sau đó, H điều khiển xe chở Hưng đem 03 tượng gỗ này đến tiệm điện thoại Hoàn Thiện I, ở Tổ 01, phường H, thành phố P, bán cho anh Nguyễn Văn Q (là chủ tiệm) được 1.500.000 đồng. Số tiền này, H và Hưng đã mua ma túy sử dụng chung hết. Sau khi mua 03 tượng gỗ của H, anh Q đã bán lại cho khách hàng (không rõ nhân thân, lai lịch) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không thu hồi được. Qua định giá, kết luận: 03 tượng gỗ hình ông Phúc - Lộc - Thọ có trị giá là 3.000.000 đồng. Hiện bà Ninh Thị N yêu cầu bị cáo Lê Minh H bồi thường cho bà theo quy định của pháp luật.

Vụ thứ năm: Khoảng 12 giờ vào thời gian giữa tháng 12/2017 (không xác định được ngày), Lê Minh H tiếp tục rủ đối tượng Hưng đi trộm cắp tài sản, Hưng đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 81B1-606.16 chở Hưng đi dạo trên các tuyến đường ở thành phố P. Khi đi đến trước tiệm cắt tóc của chị Nguyễn Thị T (sinh năm 1993, trú tại số nhà 455 đường N, tổ 13, phường H, thành phố P) thấy cửa mở, không có người trông coi. Lúc này, H dừng xe lại và đứng ở ngoài cảnh giới, còn Hưng đột nhập vào trong nhà theo lối cửa chính trộm cắp 01 chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu Dell Inspiron N5521, màu đen và 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 5s, màu trắng để trên bàn cắt tóc, rồi theo lối cũ ra ngoài. Sau đó, H điều khiển xe chở Hưng đem đến tiệm điện thoại Hoàn Thiện II, ở số 56 đường Trần P, tổ 01, phường T, thành phố P, bán cho anh Nguyễn Văn P (là chủ tiệm) được 3.200.000 đồng. H và Hưng chia nhau mỗi người 1.600.000 đồng. Số tiền này, H đã mua ma túy sử dụng hết. Sau khi mua chiếc điện thoại Iphone 5s và chiếc máy tính xách tay do H trộm cắp mà có, anh P đã bán lại cho khách hàng (không rõ nhân thân, lai lịch) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không thu giữ được. Qua định giá, kết luận: Chiếc máy tính xách tay đã trừ khấu hao có trị giá là 4.000.000 đồng; chiếc điện thoại hiệu Iphone 5s đã trừ khấu hao có trị giá là 2.600.000 đồng. Tổng cộng 6.600.000 đồng. Hiện chị Nguyễn Thị T yêu cầu bị cáo Lê Minh H bồi thường cho chị theo quy định của pháp luật.

Vụ thứ sáu: Khoảng 14 giờ vào thời gian giữa tháng 12/2017 (không xác định được ngày), Lê Minh H rủ Hưng đi trộm cắp tài sản, Hưng đồng ý. Sau đó, Hưng điều khiển xe mô tô hiệu Wave, màu xám (không rõ biển số) chở H đi dạo trên các tuyến đường ở thành phố P. Khi đi đến trước tiệm bán phở ở số nhà 12 đường N, tổ 09, phường H - là quán của bà Lê Thị Thu H (sinh năm 1970, trú tại số nhà 88 đường T, tổ 04, phường T, thành phố P), thấy cửa mở, không có người trông coi. Lúc này, Hưng dừng xe lại và đứng ngoài cảnh giới, còn H đột nhập vào trong quán trộm cắp 01 điện thoại hiệu Oppo F1, màu bạc của bà Hà để trên bàn ở góc quán rồi theo lối cũ ra ngoài. Sau đó, H lái xe chở Hưng đến tiệm điện thoại ALo ở số 56 đường H, tổ 02, phường D, thành phố P, bán cho anh Nguyễn Thành Tr (là chủ tiệm) được 2.200.000 đồng. H và Hưng chia nhau mỗi người 1.100.000 đồng. Số tiền bán tài sản trộm cắp được, H đã mua ma túy sử dụng hết. Sau khi mua chiếc điện thoại hiệu Oppo F1 của H, anh Tr đã bán lại cho khách hàng (không rõ nhân thân, lai lịch) nên không thu giữ được. Qua định giá, kết luận: Chiếc điện thoại hiệu Oppo F1 đã trừ khấu hao có trị giá là 2.200.000 đồng. Hiện bà Lê Thị Thu H yêu cầu bị cáo Lê Minh H bồi thường cho bà theo quy định của pháp luật.

Vụ thứ bảy: Khoảng 14 giờ thời gian giữa tháng 12/2017 (không xác định được ngày), Lê Minh H rủ Hưng đi trộm cắp tài sản, Hưng đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 81B1-606.16 chở Hưng đi dạo trên các tuyến đường ở thành phố P. Khi đi đến trước nhà chị Trần Thị Thu Tr (sinh năm 1983, trú tại số nhà 86 đường L, tổ 03, phường C, thành phố P) thấy cửa mở, không có người trông coi. H dừng xe lại và đứng ở ngoài cảnh giới, còn Hưng đột nhập vào trong nhà chị Tr theo lối cửa chính trộm cắp 01 điện thoại hiệu Oppo Neo 7, màu trắng; 01 điện thoại hiệu Nokia Lumia 620, màu đen để trên tủ gỗ ở phòng khách và 01 điện thoại hiệu Samsung C3312, màu trắng, bị hư hỏng để trên ghế phòng khách rồi theo lối cũ ra ngoài. Sau đó, H điều khiển xe chở Hưng đem đến tiệm điện thoại Hoàn Thiện II, ở số 56 đường Trần P, tổ 01, phường T, thành phố P, bán cho anh Nguyễn Văn P (là chủ tiệm) chiếc điện thoại hiệu Oppo Neo 7, màu trắng được 800.000 đồng. Tiếp đó, H chở Hưng mang chiếc điện thoại hiệu Nokia Lumia 620, màu đen và chiếc điện thoại hiệu Samsung C3312, màu trắng đến tiệm điện thoại Hoàn Thiện I, ở Tổ 01, phường H, thành phố P, bán cho Nguyễn Văn Q (là chủ tiệm) được 700.000 đồng. H và Hưng chia nhau mỗi người 750.000 đồng. Số tiền này, H đã mua ma túy sử dụng hết. Sau khi mua các chiếc điện thoại nêu trên, anh P và anh Q đã bán cho khách hàng (không rõ nhân thân, lai lịch) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không thu giữ được. Qua định giá, kết luận: 01 chiếc điện thoại hiệu Oppo Neo 7 đã trừ khấu hao có trị giá 1.400.000 đồng; chiếc điện thoại hiệu Nokia Lumia 620 đã trừ khấu hao có trị giá 700.000 đồng và chiếc điện thoại hiệu Samsung C3312 đã bị hư hỏng có trị giá là 20.000 đồng. Tổng cộng 2.120.000 đồng. Hiện chị Trần Thị Thu Tr yêu cầu bị cáo Lê Minh H bồi thường cho chị theo quy định của pháp luật.

Vụ thứ tám: Khoảng 13 giờ ngày 20/12/2017, Lê Minh H tiếp tục rủ đối tượng Hưng đi trộm cắp tài sản, Hưng đồng ý. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 81B1-606.16 chở Hưng đi dạo trên các tuyến đường ở thành phố P. Khi đi đến trước nhà ông Trần Văn B (sinh năm 1965, trú tại số nhà 08 đường M, tổ 13, phường H, thành phố P) thấy cửa mở, không có người trông coi. Lúc này, H dừng xe lại và đứng ngoài cảnh giới, còn Hưng đột nhập vào trong phòng khách nhà anh ông B trộm cắp 01 điện thoại hiệu Iphone 6 Plus, màu trắng rồi ra ngoài. Sau đó H điều khiển xe chở Hưng bỏ chạy. Sau khi lấy chiếc điện thoại, H lái xe chở Hưng đến tiệm điện thoại Hoàn Thiện II, ở số 56 đường Trần P, tổ 01, phường T, thành phố P, bán cho anh Nguyễn Văn P (là chủ tiệm) được 5.200.000 đồng. H và Hưng chia nhau mỗi người 2.600.000 đồng. Số tiền này, H đã mua ma túy sử dụng hết. Sau khi mua chiếc điện thoại của H do trộm cắp mà có, anh P đã bán lại cho khách hàng (không rõ nhân thân, lai lịch) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không thu hồi được. Qua định giá, kết luận: Chiếc điện thoại hiệu Iphone 6 Plus đã trừ khấu hao có trị giá là 6.500.000 đồng. Hiện ông Trần Văn B yêu cầu bị cáo Lê Minh H bồi thường cho ông theo quy định của pháp luật.

Vụ thứ chín: Khoảng 10 giờ ngày 31/12/2017, Lê Minh H đi bộ đến phòng trọ số 47 đường N, tổ 14, phường H, thành phố P gặp Phạm Bá Th và rủ Th đi trộm cắp tài sản, Th đồng ý. Sau đó, Th điều khiển xe mô tô biển số 81B1-244.21 chở H đi đến Thôn 03, xã D, thành phố P mục đích tìm nhà ai sơ hở thì vào trộm cắp tài sản. Khi đi ngang qua nhà anh Nguyễn Bá N (sinh năm 1985), thấy cửa nhà không khóa và không có người trông coi nên Th dừng xe lại, đứng ngoài đường cảnh giới, còn H đi vào nhà anh N. Khi vào đến cửa, H thấy có tượng gỗ hình ông Phật Di lặc mang cành đào, loại gỗ Hương, kích thước (72 x 47 x 21)cm, màu nâu để gần ti vi ở phòng khách nên H đến bê tượng gỗ rồi đi ra, lên xe Th chở chạy đến bán cho anh Bùi Thế V (sinh năm 1972, trú tại Tổ 07, phường T, thành phố P) được 2.200.000 đồng. Số tiền này, H và Th chia nhau mỗi người 500.000 đồng. Số tiền còn lại, H và Th mua ma túy sử dụng chung hết. Sau khi phát hiện bị mất tượng gỗ anh N đã đến Công an xã D trình báo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã thu giữ của Bùi Thế V tượng gỗ mà H và Th đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Bá N và bán cho V. Qua định giá, kết luận: Tượng gỗ hình ông Phật Di lặc mang cành đào có trị giá là 4.000.000 đồng. Sau khi định giá xong, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trả lại tượng gỗ nêu trên cho anh Nguyễn Bá N. Hiện anh Bùi Thế V yêu cầu các bị cáo Lê Minh H và Phạm Bá Th bồi thường cho anh theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số 83/CT-VKS ngày 09/5/2018 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lê Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Phạm Bá Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. 

Diễn biến tại phiên toà:

Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo. Các bị cáo công nhận Viện kiểm sát truy tố là đúng tội, đúng pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu lời luận tội đối với các bị cáo:

Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo Lê Minh H và Phạm Bá Th về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Minh H mức án từ 36 (Ba mươi sáu) tháng đến 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 12/01/2018).

+ Căn cứ theo khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Bá Th mức án từ 12 (Mười hai) tháng đến 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 12/01/2018).

- Về dân sự:

Buộc bị cáo Lê Minh H bồi thường cho những người sau đây:

+ Bồi thường cho chị Trần Thị H số tiền 6.900.000 đồng.

+ Bồi thường cho anh Huỳnh Ngọc N số tiền 2.500.000 đồng.

+ Bồi thường cho bà Ninh Thị N số tiền 3.000.000 đồng.

+ Bồi thường cho chị Nguyễn Thị T số tiền 6.600.000 đồng.

+ Bồi thường cho bà Lê Thị Thu H số tiền 2.200.000 đồng.

+ Bồi thường cho chị Trần Thị Thu Tr số tiền 2.120.000 đồng.

+ Bồi thường cho ông Trần Văn B số tiền 6.500.000 đồng.

+ Bồi thường cho anh Bùi Thế V số tiền 1.100.000 đồng

Buộc bị cáo Phạm Bá Th bồi thường cho anh Bùi Thế V số tiền 1.100.000 đồng.

- Về vấn đề khác: Buộc các bị cáo Lê Minh H và Phạm Bá Th, mỗi bị cáo phải nộp số tiền 400.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

* Các bị cáo không có ý kiến tranh luận đối với Viện kiểm sát.

* Các bị cáo nói lời sau cùng:

- Bị cáo Lê Minh H: Bị cáo biết hành vi của mình là sai trái, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về làm ăn để bồi thường cho những người bị hại.

- Bị cáo Phạm Bá Th: Trong thời gian tạm giam, bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố P, tỉnh Gia Lai; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, lời khai của những người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Minh H và Phạm Bá Th phạm tội như sau:

Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 9/2017 đến ngày 31/12/2017, tại địa bàn thành phố P, tỉnh Gia Lai, Lê Minh H cùng với Phạm Bá Th thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản chiếm đoạt, gồm: 01 tượng gỗ hình ông Phật Di lặc hai tay dâng đồng tiền, loại gỗ Pơ mu và 01 tượng gỗ hình ông Phật Di lặc mang cành đào. Tài sản có tổng giá trị 7.200.000 đồng.

Riêng Lê Minh H thực hiện 07 vụ trộm cắp, tài sản chiếm đoạt gồm: 01 chiếc ti vi nhãn hiệu TCL, màn hình LED 50 inch; 02 tượng gỗ hình lộc bình, loại gỗ Cẩm lai; 03 tượng gỗ hình ông Pc-Lộc-Thọ, loại gỗ Hương; 01 chiếc máy tính xách tay, nhãn hiệu Dell; 01chiếc điện thoại hiệu Iphone 5s; 01 chiếc điện thoại hiệu Oppo F1 và 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 6 Plus. Tài sản có tổng giá trị 29.820.000 đồng.

Do vậy, H đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Phạm Bá Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật, đúng người, đúng tội.

Các bị cáo nhận đều nhận thức được tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác là trái pháp luật, đều bị xử lý nghiêm minh nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân, các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của những người bị hại, lén lút chiếm đoạt tài sản của những người bị hại. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác và gây mất trật tự trị an xã hội. Tuy nhiên, xét tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo thì thấy, các bị cáo khi phạm tội không có sự phân công, bàn bạc cụ thể nên tính chất đồng phạm mang tính giản đơn.

Đối với bị cáo Lê Minh H, là người trực tiếp thực hiện 07 vụ trộm cắp tài sản có tổng giá trị 29.820.000 đồng và là người khởi xướng, rủ rê bị cáo Phạm Bá Th cùng thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản có tổng trị giá 7.200.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bản thân bị cáo đã tái phạm về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên hành vi của bị cáo đã phạm vào tiết định khung tăng nặng “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do vậy bị cáo Lê Minh H phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã H một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã H.

Đối với bị cáo Phạm Bá Th đã cùng bị cáo Lê Minh H thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản có tổng trị giá 7.200.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do vậy bị cáo Th phải chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo Lê Minh H và phải cách ly bị cáo ra khỏi xã H một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã H.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội các bị cáo đã ra đầu thú. Quá trình điều tra, bị hại Nguyễn Bá N có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Ngoài ra, bị hại là chị Đoàn Thị Thanh D có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Phạm Bá Th.

[4] Về dân sự:

- Chị Đặng Thị Thanh D bị các bị cáo Lê Minh Hvà Phạm Bá Th trộm cắp 01 tượng gỗ hình ông Phật Di lặc hai tay dâng đồng tiền, loại gỗ Pơ mu, qua định giá có trị giá là 3.200.000 đồng. Sau khi trộm cắp tài sản của chị D, các bị cáo đã bán cho một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) được 800.000 đồng. Số tiền này các bị cáo đã chia nhau tiêu xài hết. Do chị Đặng Thị Thanh D chưa nhận lại được tài sản trên nhưng không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính để sung vào Ngân sách Nhà nước, mỗi bị cáo nộp lại số tiền 400.000 đồng.

- Chị Trần Thị H bị bị cáo Lê Minh Htrộm cắp 01 chiếc ti vi nhãn hiệu TCL L50D2700, màn hình LED 50 inch, màu đen, đã qua sử dụng. Qua định giá, sau khi đã trừ khấu hao, chiếc ti vi trên có trị giá là 6.900.000 đồng. Chị Trần Thị H yêu cầu bị cáo Lê Minh H phải bồi thường trị giá số tiền theo quy định của pháp luật. Yêu cầu của chị H là phù hợp và bị cáo cũng chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của chị Hội nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo Lê Minh H bồi thường cho chị Trần Thị H số tiền 6.900.000 đồng.

- Anh Huỳnh Ngọc N bị bị cáo Lê Minh H trộm cắp 02 tượng gỗ hình lộc bình, loại gỗ Cẩm lai. Qua định giá, số tài sản trên có trị giá là 2.500.000 đồng. Anh Huỳnh Ngọc N yêu cầu bị cáo H bồi thường 2.500.000 đồng. Yêu cầu của anh N là phù hợp và bị cáo H cũng đồng ý bồi thường theo yêu cầu của anh N. Do đó, buộc bị cáo Lê Minh H phải bồi thường cho anh Huỳnh Ngọc N số tiền 2.500.000 đồng.

- Bà Ninh Thị N bị bị cáo Lê Minh H trộm cắp 03 tượng gỗ hình ông Phúc- Lộc-Thọ. Qua định giá, số tài sản trên có trị giá là 3.000.000 đồng. Bà Ninh Thị N yêu cầu bị cáo Lê Minh H phải bồi thường trị giá số tiền theo quy định của pháp luật. Yêu cầu của bà H là phù hợp và bị cáo cũng chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của bà H nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo Lê Minh H bồi thường cho bà Ninh Thị N số tiền 3.000.000 đồng.

- Chị Nguyễn Thị T bị bị cáo Lê Minh H trộm cắp 01 chiếc máy tính xách tay, qua định giá đã trừ khấu hao có trị giá là 4.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 5s, qua định giá đã trừ khấu hao có trị giá là 2.600.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 6.600.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Thanh T yêu cầu bị cáo Lê Minh H phải bồi thường trị giá số tiền theo quy định của pháp luật. Yêu cầu của chị T là phù hợp và bị cáo cũng chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của chị T nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo Lê Minh Hbồi thường cho chị Nguyễn Thị T số tiền 6.600.000 đồng.

- Bà Lê Thị Thu H bị bị cáo Lê Minh H trộm cắp 01 chiếc điện thoại hiệu Oppo F1. Qua định giá đã trừ khấu hao có trị giá là 2.200.000 đồng. Bà Lê Thị Thu H yêu cầu bị cáo Lê Minh H phải bồi thường trị giá số tiền theo quy định của pháp luật. Yêu cầu của bà H là phù hợp và bị cáo cũng chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của bà H nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo Lê Minh H bồi thường cho bà Lê Thị Thu Hà số tiền 2.200.000 đồng.

- Chị Trần Thị Thu Tr bị bị cáo Lê Minh H trộm cắp 01 chiếc điện thoại hiệu Oppo Neo 7, qua định giá đã trừ khấu hao có trị giá 1.400.000 đồng; chiếc điện thoại hiệu Nokia Lumia 620, qua định giá đã trừ khấu hao có trị giá 700.000 đồng và chiếc điện thoại hiệu Samsung C3312 đã bị hư hỏng, qua định giá có trị giá là 20.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 2.120.000 đồng. Chị Trần Thị Thu Tr yêu cầu bị cáo Lê Minh H phải bồi thường trị giá số tiền theo quy định của pháp luật. Yêu cầu của chị Tr là phù hợp và bị cáo cũng chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của chị Tr nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo Lê Minh H bồi thường cho chị Trần Thị Thu Tr số tiền 2.120.000 đồng.

- Ông Trần Văn B bị bị cáo Lê Minh H trộm cắp 01 chiếc điện thoại hiệu Iphone 6 Plus, qua định giá đã trừ khấu hao có trị giá là 6.500.000 đồng. Ông Trần Văn B yêu cầu bị cáo Lê Minh H phải bồi thường trị giá số tiền theo quy định của pháp luật. Yêu cầu của ông B là phù hợp và bị cáo cũng chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của ông B nên Hội đồng xét xử buộc bị cáo Lê Minh H bồi thường cho ông Trần Văn B số tiền 6.500.000 đồng.

- Anh Nguyễn Bá N bị bị cáo Lê Minh H và Phạm Bá Th trộm cắp 01 tượng gỗ hình ông Phật Di lặc mang cành đào, qua định giá có trị giá là 4.000.000 đồng. Anh Nguyễn Bá N đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường. Tuy nhiên, sau khi trộm cắp tài sản của anh N, các bị cáo đã bán cho anh Bùi Thế V được 2.200.000 đồng. Số tiền này, các bị cáo đã chia nhau tiêu xài hết. Anh Bùi Thế V yêu cầu các bị cáo phải bồi thường số tiền 2.200.000 đồng. Yêu cầu của anh V là phù hợp và các bị cáo cũng chấp nhận bồi thường theo yêu cầu của anh V nên Hội đồng xét xử buộc mỗi bị cáo phải bồi thường cho anh Bùi Thế V số tiền 1.100.000 đồng.

[5] Về vấn đề khác:

Đối với Nguyễn Thanh T là người đã mua chiếc ti vi nhãn hiệu TCL; Bùi Thế V là người mua tượng gỗ hình Phật Di lặc mang cành đào; Nguyễn Văn P là người đã mua chiếc điện thoại Iphone 6 Plus, chiếc máy tính xách tay hiệu Dell và chiếc điện thoại Oppo Neo7; Nguyễn Văn Q là người đã mua chiếc điện thoại Nokia Lumia 620, chiếc điện thoại hiệu Samsung C3312 và 03 tượng gỗ hình ông Phúc-Lộc-Thọ, loại gỗ Hương; Nguyễn Thành Tr là người đã mua chiếc điện thoại hiệu Oppo F1 đều do các bị cáo Lê Minh H và Phạm Bá Th bán. Tuy nhiên, khi mua các tài sản này, các anh T, V, P, Tr và Q đều không biết đó là tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Thanh T, Bùi Thế V, Nguyễn Văn P, Nguyễn Thành Tr và Nguyễn Văn Q về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có cơ sở.

Đối với đối tượng tên Hưng là người mà bị cáo Lê Minh H khai đã cùng với H thực hiện 06 vụ trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, do bị cáo H không biết rõ về nhân thân, lai lịch của Hưng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chưa có căn cứ để điều tra và xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đang tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào xác định được đối tượng Hưng sẽ xem xét, xử lý sau là có căn cứ.

Đối với người thanh niên là người mà các bị cáo khai đã mua tượng gỗ hình ông Phật Di lặc hai tay nâng đồng tiền do các bị cáo trộm cắp mà có. Do các bị cáo không biết về nhân thân, lai lịch của người thanh niên này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chưa có căn cứ để điều tra, xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh khi nào đủ căn cứ thì xử lý sau.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 81B1-244.21, qua điều tra xác định: Chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 81B1-244.21 là của bà Lê Thị Mỹ L (là mẹ của bị cáo Phạm Bá Th). Bà L cho bị cáo Th mượn xe đi công việc riêng, sau đó bị cáo Th đã sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi trộm cắp tài sản thì bà L không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không thu giữ là có căn cứ.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 81B1-606.16, qua điều tra xác định: Chủ sở hữu chiếc xe mô tô biển số 81B1-606.16 là của bà Lê Thị S (là mẹ của bị cáo Lê Minh H). Bà S cho bị cáo H mượn xe đi công việc riêng, sau đó H đã sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi trộm cắp tài sản thì bà S không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P không thu giữ là có căn cứ.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xám không rõ biển số, quá trình điều tra, bị cáo Lê Minh H khai là của đối tượng tên Hưng. Do chưa xác định nhân thân, lai lịch của Hưng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P chưa thu giữ được.

Quá trình điều tra, các bị cáo đều khai: Số tiền bán tài sản do trộm cắp được mà có, các bị cáo đã mua ma túy của một người phụ nữ (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực chợ nhỏ ở đường P, tổ 14, phường H, thành phố P. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa xác định được là ai. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P tiếp tục xác minh, khi có căn cứ thì xử lý sau.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Lê Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Minh H 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 12/01/2018).

2. Căn cứ theo khoản 1 Điều 173; Điều 17; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Phạm Bá Th phạm tội “Trộm cắp tài sản” .

Xử phạt bị cáo Phạm Bá Th 12 (Mười hai) tháng tù tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 12/01/2018).

3. Căn cứ Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

* Buộc bị cáo Lê Minh H bồi thường tổng số tiền 30.920.000 đồng (Ba mươi triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) cho những người sau đây:

+ Bồi thường cho chị Trần Thị H số tiền 6.900.000 đồng.

+ Bồi thường cho anh Huỳnh Ngọc N số tiền 2.500.000 đồng.

+ Bồi thường cho bà Ninh Thị N số tiền 3.000.000 đồng.

+ Bồi thường cho chị Nguyễn Thị T số tiền 6.600.000 đồng.

+ Bồi thường cho bà Lê Thị Thu H số tiền 2.200.000 đồng.

+ Bồi thường cho chị Trần Thị Thu Tr số tiền 2.120.000 đồng.

+ Bồi thường cho ông Trần Văn B số tiền 6.500.000 đồng.

+ Bồi thường cho anh Bùi Thế V số tiền 1.100.000 đồng

* Buộc bị cáo Phạm Bá Th bồi thường cho anh Bùi Thế V số tiền 1.100.000 đồng

Kể từ ngày bị hại có đơn yêu cầu thì hành án đến khi thi hành xong các khoản tiền trên, các bị cáo phải chịu tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Buộc bị cáo Lê Minh H nộp số tiền 400.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

- Buộc bị cáo Phạm Bá Th nộp số tiền 400.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước.

5. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a, d khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc H quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Buộc bị cáo Lê Minh H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 1.546.000đ (Một triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

- Buộc bị cáo Phạm Bá Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Riêng những người bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ bản sao bản án được niêm yết.


55
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 103/2018/HSST ngày 24/07/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:103/2018/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Pleiku - Gia Lai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:24/07/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về